07 tháng 11 2025

Ma Soeur

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

đưa em về dưới mưa
nói năng chi cũng thừa
phất phơ đời sương gió
hồn mình gần nhau chưa?

tay ta từng ngón tay
vuốt lưng em tóc dài
những trưa ngồi quán vắng
chia nhau tình phôi thai
xa nhau mà không hay

(hỡi em cười vô tội
đeo thánh giá huy hoàng
hỡi ta nhiều sám hối
tính nết vẫn hoang đàng!)

em hiền như ma-sơ
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
ma-sơ này ma-sơ
có dịu dàng ánh mắt
có êm đềm cánh môi
ru ta người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời

(cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!)

đưa em về dưới mưa
xe lăn đều lên dốc
chở tình nhau mệt nhọc!

đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa

đưa em về dưới mưa
hỡi em còn nít nhỏ
chuyện tình nào không xưa?

vai em tròn dưới mưa
ướt bao nhiêu cũng vừa
cũng chưa hơn tình rụng
thấm linh hồn ma-sơ
1971

Ma Soeur: tiếng Pháp, nghĩa là nữ tu sĩ (sơ).

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Em hiền như Ma Soeur.

 Bài hát: Em Hiền Như Ma Soeur - ca sĩ Elvis Phương



Bài thơ này được thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1971, trong thời gian quen biết với Minh Thủy (từ năm 1970). Có một số bài viết cho rằng “Ma Soeur” chính là Duyên, nhưng dựa theo mốc thời gian thì không phải như vậy, vì mối tình đơn phương của nhà thơ với cô Duyên đã kết thúc trước đó đã từ lâu

Trong số những bài thơ viết cho Minh Thủy, có 2 bài được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng, đó là Hai Năm Tình Lận Đận và bài Em Hiền Như Ma Soeur. Trong đó, bài Em Hiền Như Ma Soeur gây ấn tượng mạnh với người nghe ngay từ tựa đề ca khúc.

Nếu như những bài thơ viết cho Duyên thời niên thiếu thường là lời trách móc, hờn dỗi rất trẻ con, thì vào năm 18 tuổi, khi đã chín chắn hơn, ông đã sáng tác những lời thơ rất dịu dàng để tặng cho một cô nữ sinh học chung trường khác tên là Minh Thủy, người mà sau đó cũng là vợ ông: 

Ta vẫn nhớ trưa nào em ngồi hát 

Ta thèm hôn lên mắt tiểu thư buồn 

Ta vẫn ăn năn những lúc đón đường 

Em khó chịu mà thư nào cũng nhận  

Trong số những bài thơ viết cho Minh Thủy, có 2 bài được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng, đó là Hai Năm Tình Lận Đận và bài Em Hiền Như Ma Soeur. Trong đó, bài Em Hiền Như Ma Soeur gây ấn tượng mạnh với người nghe ngay từ tựa đề ca khúc.

Dù là một người ngoại đạo nhưng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên nhiều lần nhắc đến hình tượng của Thiên Chúa Giáo, có lẽ do ảnh hưởng từ mối tình đầu tiên của ông (Duyên) là một con chiên ngoan đạo. Còn về phần cô gái mang tên Minh Thuỷ, đây chắc hẳn là một cô gái rất hiền lành, dịu dàng, đoan trang nên mới được nhà thơ ví “hiền như Ma soeur”, nghĩa là giống như những nữ tu.




06 tháng 11 2025

Duyên của tình ta con gái Bắc

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

ta sẽ về thương lại nhánh sông xưa

thương lại bóng hình người năm năm trước...

em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền

nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang

nhớ duyên dáng, ngây thơ... mà xảo quyệt!

 


ta sẽ nhớ dặn dò lòng nên tha thiết

nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

nên yêu đương bằng khuôn mặt khờ khờ

nên hùng hổ... để đợi giờ thua thiệt!

 

nghe nói em vừa thi rớt Luật

môi trâm anh tàn héo nụ-xa-vời

mắt công nương thầm khép mộng chân trời

xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng!

(dù thật sự cũng đáng đời em lắm

rớt đi Duyên, rớt để thương người!)

 

ta - thằng ôm hận tú tài đôi

không biết tìm ai mà kể lể

chim lớn thôi đành cam rớt lệ

ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh!

 

nếu vì em mà ta phải điên tình

cơn giận dữ đã tận cùng mê muội

thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài yếu đuối

tay tre khô mối mọt ăn luồn

dễ gãy dòn miểng vụn tả tơi xương

khi tàn bạo siết cổ người yêu dấu!

 

em chẳng bao giờ rung động cũ

ta năm năm nghiệt ngã với tình đầu

nên trở về như một con sâu

lê chân mỏng qua những tàn cây rậm

nuôi hy vọng sau ngàn mưa nắng lậm

lá-xanh-em chưa dấu lở loang nào

để ta còn thi sĩ nhất loài sâu

nhìn lá nõn, tiếc, thèm... đâu dám cắn!


nếu vì em mà thiên tài chán sống

thì cũng vì em ta ngại bước xa đời!

1972

Ngọc Sang ngâm thơ

04 tháng 11 2025

Gửi Lai Châu

Tác giả: Trần Mạnh Hảo

Trái tim đập không một ai nhìn thấy,

Ở ven trời Tây Bắc có Lai Châu.

Hoa ban nở thành người con gái Thái,

Đám mây bay trong thau nước gội đầu.

 


Nơi sông Đà vặn mình rung núi

"Lối Ma Ly Pho là sợi chỉ xuyên qua xống váy mèo"

Thị xã nhỏ như chiếc áo cài trên ngực đất nước

Núi hai đầu mây đến đá lông nheo

 

Nơi con thác giữ nụ cười em lại

Tiếng Thái thương như cầm được giữa tay mình

Tóc em đó như mùa màng gặt hái

Mỗi cái nhìn ẩn chứa một bình minh.

 

Nơi ngủ dậy núi đã đầy trong mắt

Trong chiêm bao còn vọng tiếng nai chiều

Tiếng ngựa thồ gõ vào mây rậm rịch

Em gội đầu để suối suốt đời reo.

 

Nơi em về bản Chi Luông, bản Xá

Hoa rừng thơm như có kẻ theo cùng

Bản mới dựng mắt em là chiếc lá

Rơi bập bùng chân cứ muốn đi chung.

 

Nơi vách đá còn ghi bia Lê Lợi

Lịch sử ngược sông Đà, nước réo tiếng gươm xưa

Em đứng đó mỉm cười khi anh hỏi

Như hoa ban chỉ nở lúc sang mùa.

 

Nơi dấu tích còn ghi thời thống khổ

Cô gái xòe xưa lao mình xuống sông Đà

Chỗ em khóc sân vua Đèo giờ biếc cỏ

Anh đi tìm nước mắt gặp lời ca.

 

Anh đã gặp những con người như lửa

Giấu khói lửa đi như thời bếp Hoàng Cầm

Điện Biên của mọi người dành riêng em điệu múa

Những đời thường nhập lai hoá nhân dân.

 

Lai Châu của lúa thơm sắn ngọt

Của tình em cho thị xã trăng rằm

Của ngọn gió kéo mặt trời qua dốc

Tiếng khèn Mèo làm suối cứ băn khuăn.

 

Anh xin mang tiếng sông Đà về với biển

Để lòng em tìm lại buổi ban đầu

Em đứng đó mây ven trời vô kể

Để suốt đời anh mắc nợ Lai Châu...

(1981)


Trong một bài báo viết về vẻ đẹp Lai Châu, Tây Bắc, nhà báo Kiều Trinh của báo “Điện Biên” đã viết : Cách đây 35 năm, trong chuyến thực tế Lai Châu, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết bài thơ “Gửi Lai Châu” (1981), trong đó có câu: “Hoa Ban nở thành người con gái Thái”. Với bạn đọc Lai Châu - Điện Biên, đó là một trong những câu thơ hay nhất viết về hoa Ban, là sự ví von kiều diễm nhất về người con gái dân tộc Thái.

Trần Mạnh Hảo kể lại: Năm 1981 nhà văn Mạc Phi tác giả tiểu thuyết nổi tiếng “Rừng động”, chủ tịch Hội văn nghệ Lai Châu, có vợ người Thái, trong một bữa tiệc với nhạc sĩ Văn Cao, đã rủ Trần Mạnh Hảo lên Lai Châu Tây Bắc chơi. Theo xe riêng của anh Mạc Phi, tôi đã lên Lai Châu Tây Bắc. Dân tộc Thái và hoa ban tuyệt đẹp đã quyến rũ tôi, khiến tôi ở Tây Bắc suốt ba tháng trời.

Câu thơ “HOA BAN NỞ THÀNH NGƯỜI CON GÁI THÁI” đã được anh chị em người Thái coi như quốc bảo, khiến lần tôi trở lại Lai Châu suýt chết chìm trong rượu Thái và suýt chết đuối trong đôi mắt diễm lệ hoa ban.

Đường lên Mường Tè

Phong cảnh ở Sìn Hồ 

Đèo Hoàng Liên phía Lai châu


31 tháng 10 2025

Lùi một bước biển rộng trời cao (Vọng viễn năng tri phong lãng tiểu; Lăng không thủy giác hải ba bình)

Câu "望远能知风浪小,凌空始觉海波平" là một câu thơ mang tính triết lý sâu sắc, thường được dùng để khuyên răn hoặc thể hiện một góc nhìn về cuộc sống.


Ý nghĩa chính của nó có thể được hiểu như sau:

1. Nghĩa đen:

- 望远能知风浪小 (Vọng viễn năng tri phong lãng tiểu): Khi đứng từ xa mà nhìn ra biển, ta mới thấy những cơn sóng to gió lớn thực ra cũng chỉ nhỏ bé.

- 凌空始觉海波平 (Lăng không thủy giác hải ba bình): Chỉ khi bay lên cao, vượt lên trên mọi thứ, ta mới nhận ra mặt biển thực ra rất bằng phẳng, yên ả.

2. Nghĩa bóng (Bài học triết lý):

Đây là thông điệp quan trọng nhất của câu thơ. Nó khuyên con người ta:

- Hãy biết nhìn xa trông rộng, đứng trên cao để quan sát sự việc. Khi bạn bị cuốn vào một vấn đề khó khăn, một mối bất hòa hay một cảm xúc tiêu cực (như giận dữ, thất vọng), bạn sẽ dễ bị chúng "vùi dập" và cảm thấy chúng thật to lớn, khó lòng vượt qua.

- Giữ một tầm nhìn rộng và tư thế cao. Nếu bạn biết "lùi lại một bước", "đứng cao hơn" để nhìn nhận sự việc một cách tổng thể và khách quan, bạn sẽ nhận ra rằng những vấn đề tưởng chừng như rất lớn đó thực chất chỉ là nhỏ bé, và mọi thứ rồi sẽ "lắng xuống" và "bình yên" trở lại.

- Sự bình tĩnh và sáng suốt đến từ góc nhìn rộng. Câu thơ nhấn mạnh rằng sự bình tâm và giải pháp cho mọi vấn đề không nằm ở trong "cơn sóng gió", mà ở việc bạn có đủ bản lĩnh và trí tuệ để vượt lên trên nó hay không.

Tóm lại, câu thơ này là một lời khuyên sâu sắc:

Khi đối mặt với nghịch cảnh, sóng gió trong cuộc sống, đừng vội hoảng sợ hay tuyệt vọng. Hãy cố gắng giữ cho mình một cái đầu lạnh, một tầm nhìn xa và một tư thế cao. Khi đó, bạn sẽ thấy mọi chuyện không đáng sợ như bạn tưởng và tìm ra được lối đi đến sự bình yên.

Nó cũng tương tự như câu thành ngữ Việt Nam: "Lùi một bước, biển rộng trời cao" hoặc quan niệm "giữ tâm bình an trước mọi biến cố".



30 tháng 10 2025

Hai năm tình lận đận

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

1.
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng xanh xao
mùa đông, hai đứa lạnh
cùng thở dài như nhau

hai năm tình lận đận
hai đứa cùng hư hao

(em không còn thắt bím
nuôi dưỡng thời ngây thơ
anh không còn lính quýnh
giữa sân trường trao thư)

hai năm tình lận đận
hai đứa đành xa nhau
em vẫn còn mắt liếc
anh vẫn còn nôn nao
ngoài đường em bước chậm
trong quán chiều anh ngóng cổ cao



2.
em bây giờ có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ có lẽ
xin làm người tình thua
chuông nhà thờ đổ mệt
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
rơi xuống trần gian mưa

(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông... dại khờ)

anh bây giờ có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bậm
làm phân bón rêu xanh

(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh)

3.
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa!


(Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên).

Ca khúc: Hai năm tình lận đận

Nguyễn Tất Nhiên (1952 - 1992) tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh tại tỉnh Biên Hoà. Lúc còn trẻ ông còn có biệt danh là Hải ngáo hay Hải khùng do bạn bè đặt do tâm hồn luôn mơ mộng, không tập trung ngay cả khi đang học.

Theo lời nhà thơ Thái Thuỵ Vy (người cùng quê với ông), hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà ông ưa mặc cái manteau mua ở khu dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên, ông thường làm thơ in ronéo đi phát không cho nữ sinh, họ đều quăng vào thùng rác. Thời gian này, ông thành lập thi văn đoàn với bạn học là Đinh Thiên Thọ (bút danh Đinh Thiên Phương), cùng chung nhau xuất bản tập thơ Nàng thơ trong mắt năm 1966, khi mới 14 tuổi. Trong tập thơ này ông lấy bút hiệu là Hoài Thi Yên Thi. Mối tình vô vọng với cô Duyên, nỗi đam mê, niềm đau khổ làm người đã tạo nên phong cách thơ của ông.

Nên sầu khổ dịu dàng

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

1.

Những kỷ niệm đời xin hãy còn xanh

(Có một ngày mình bỏ trường bỏ lớp

Anh cũng đi như luật định trời dành

Em cũng đi như luật định trời dành)

 


2.

Nắng bờ sông như màu trang vở cũ

Thuở học trò em làm khổ ai chưa?

 

3.

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bàn tay xương cầm hờ hẫng văn bằng

 

4.

Em hãy đứng trước gương làm dáng

Tự khen mình đẹp quá đi em

(Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng

Còn đôi chút luyến lưu thời con gái)

 

Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải

Nhớ cho mình dáng dấp người yêu

(Lỡ dòng đời tóc điểm muối tiêu

Còn giây phút chạnh lòng như... mới lớn)

 

Mình hãy trách đời nhau nhiều hư hỏng

Rồi giận hờn cho kỷ niệm đầu tay

Thu miên man không thấy lá vàng bay

Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng

 

5.

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng

Người thì không bắt bóng được bao giờ

 

6.

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng

1970

23 tháng 10 2025

Giới tử thư (Gia Cát Lượng)

Tác giả: Gia Cát Lượng (181-234), tự Khổng Minh, là Thừa tướng, nhà chính trị, quân sự kiệt xuất thời Tam Quốc. Ông là trụ cột của nước Thục Hán, phò tá Hán Chiêu Liệt Đế Lưu Bị.

Năm Gia Cát Lượng 36 tuổi thì có con trai đầu lòng là Gia Cát Chiêm (tự Tử Viễn). Năm Cát Chiêm 8 tuổi, Gia Cát Lượngng viết "Giới tử thư" nghĩa là "Thư răn dạy con". Cả bức thư chỉ có 86 chữ nhưng chứa đựng tầm nhìn, nhiều tầng lớp ý nghĩa và trí tuệ hơn người của Gia Cát Lượng trong việc dạy con.

诸葛亮诫子书隶书书法作品

诸葛亮《诫子书》: 夫君子之行,静以修身,俭以养德。非淡泊无以明志,非宁静无以致远。夫学须静也,才须学也。非学无以广才,非志无以成学。淫慢则不能励精,险躁则不能冶性。年与时驰,意与日去,遂成枯落,多不接世,悲守穷庐,将复何及!

Phu quân tử chi hành, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức.

Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn.

Phu học tu tĩnh dã, tài tu học dã.

Phi học vô dĩ quảng tài, phi chí vô dĩ thành học.

Dâm mạn tắc bất năng lệ tinh, hiểm táo tắc bất năng dã tính.

Niên dữ thì trì, ý dữ nhật khứ, toại thành khô lạc, đa bất tiếp thế. Bi thủ cùng lư, tương phục hà cập

Dịch nghĩa:

Hành vi của người quân tử, lấy sự tĩnh lặng để rèn luyện bản thân, lấy sự tiết kiệm để bồi dưỡng phẩm hạnh.

Nếu không có sự thanh đạm thì không thể làm sáng tỏ chí hướng; nếu không có sự yên tĩnh thì không thể đạt được những mục tiêu lớn lao.

Việc học cần phải trong sự tĩnh lặng, và tài năng cần phải qua sự học tập.

Nếu không học thì không thể mở rộng tài năng; nếu không có chí hướng thì không thể thành công trong việc học.

Nếu buông thả lười biếng thì không thể rèn luyện tinh thần; nếu nóng nảy bộc phát thì không thể tu dưỡng được bản tính.

Năm tháng trôi qua, ý chí cũng hao mòn, dẫn đến sự khô héo, tàn úa. Nhiều người không còn hòa nhập được với xã hội, chỉ biết buồn bã sống trong cảnh nghèo khó cô đơn. Lúc ấy muốn thay đổi cũng đã quá muộn màng.

Giới Tử Thư (诫子书) của Gia Cát Lượng không chỉ là một bức thư dạy con mà còn là một kiệt tác văn chương hàm súc, một triết lý nhân sinh sâu sắc. Hơn 1800 năm đã trôi qua, những lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị, thậm chí càng trở nên quý giá trong nhịp sống hối hả và đầy biến động của xã hội ngày nay.

Chúng ta hãy cùng nhau phân tích và bình luận về bài văn này dưới góc nhìn thực tế cuộc sống hiện đại.

Phân tích những giá trị cốt lõi trong "GiớiTử Thư"

1.  "Tĩnh" ( - Tĩnh lặng): Đây là nền tảng đầu tiên và xuyên suốt toàn bộ bức thư.

 "Tĩnh dĩ tu thân" (Tĩnh để sửa mình): Trong sự ồn ào của mạng xã hội, tin tức 24/7 và vô vàn những thú vui giải trí, con người hiện đại dễ bị cuốn theo dòng chảy hỗn độn mà đánh mất sự bình an nội tâm. "Tĩnh" giúp ta dừng lại, nhìn vào bên trong, suy ngẫm về bản thân và điều chỉnh hành vi.

 "Học tu tĩnh dã" (Học cần phải tĩnh):Không có sự tập trung do "tĩnh" mang lại, việc học và tiếp thu kiến thức sâu sắc là điều không thể. Điều này hoàn toàn đúng trong thời đại số, nơi sự xao nhãng, trở thành kẻ thù lớn nhất của việc học tập chuyên sâu.

2. "Tiết" ( - Giản dị, tiết kiệm):

"Tiết dĩ dưỡng đức" (Tiết kiệm để nuôi dưỡng đạo đức): Chủ nghĩa tiêu dùng và văn hóa "sống ảo" khiến con người dễ sa đà vào việc chạy theo vật chất, hình thức bên ngoài. Lối sống giản dị, tiết kiệm giúp ta không bị nô lệ bởi vật chất, từ đó giữ cho tâm hồn thanh cao và trong sạch.

3.  "Đạm bạc" (淡泊) & "Ninh tĩnh" (宁静):

"Phi đạm bạc vô dĩ minh chí" (Không đạm bạc thì không thể sáng tỏ được chí hướng): Khi bị chi phối bởi danh lợi, địa vị, con người ta dễ đánh mất mục tiêu thực sự của đời mình. Sống đạm bạc không có nghĩa là không có tham vọng, mà là biết từ chối những cám dỗ ngắn hạn để giữ vững lý tưởng dài hạn.

 "Phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn" (Không tĩnh lặng thì không thể vươn tới những mục tiêu xa): Suy nghĩ vội vàng, nóng nảy ("hiểm táo") sẽ không bao giờ giúp ta đưa ra những quyết định sáng suốt cho tương lai. Chỉ trong sự bình tĩnh, ta mới có thể nhìn xa, trông rộng.

4.  Mối quan hệ giữa Học - Chí - Tài:

"Học tu tĩnh dã, tài tu học dã. Phi học vô dĩ quảng tài, phi chí vô dĩ thành học" (Học cần phải tĩnh, tài cần phải học. Không học thì không mở rộng được tài năng, không có chí thì không hoàn thành được việc học).  Đây là một công thức hoàn hảo: TĨNH -> CHÍ -> HỌC -> TÀI. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của ý chí (chí) như một động lực bên trong để kiên trì học tập, từ đó mới phát triển được tài năng thực sự.

5.  Lời cảnh báo về thời gian:

 "Niên dữ thì trì, ý dữ nhật khứ" (Năm tháng trôi qua, ý chí tiêu mòn): Thời gian là thứ một đi không trở lại. Nếu không biết trân trọng từng giây phút để rèn luyện bản thân, ta sẽ trở nên "khô héo" ("khô lạc"), lạc hậu và vô dụng. Hình ảnh "bi thủ cùng lư" (buồn rầu ôm khung cảnh nghèo nàn) là kết cục bi thảm cho một đời sống hoang phí thời gian và cơ hội.

Chân dung Gia Cát Lượng


Bình luận và liên hệ thực tế cuộc sống ngày nay

1.      "Tĩnh" - Liều thuốc giải cho sự "nghiện" kỹ thuật số và căng thẳng:

 Xã hội hiện đại đang thiếu "tĩnh" một cách trầm trọng. Các phương pháp như thiền định, chánh niệm (mindfulness), sống chậm lại đang trở nên phổ biến chính là minh chứng cho thấy con người khao khát sự bình an nội tâm mà Gia Cát Lượng đã nói đến. "Tĩnh" giúp chúng ta giảm stress, cải thiện sức khỏe tinh thần và làm việc hiệu quả hơn.

2.      "Đạm bạc" - Chống lại chủ nghĩa vật chất và "văn hóa sống ảo":

Trong thời đại của mạng xã hội, mọi người dễ dàng đánh đồng giá trị bản thân với lượt thích, người theo dõi và những thứ xa xỉ. Triết lý "đạm bạc minh chí" nhắc nhở chúng ta đâu mới là thứ thực sự quan trọng: giá trị nội tại, mối quan hệ chân thật và những đóng góp có ý nghĩa cho xã hội.

3.     "Học phải có chí" - Chìa khóa trong kỷ nguyên tri thức:

Kiến thức ngày nay thay đổi với tốc độ chóng mặt. Việc học không còn dừng lại ở trường lớp mà là một hành trình suốt đời. Tuy nhiên, với vô vàn thông tin, nếu không có "chí" (sự kiên trì, kỷ luật tự giác) và "tĩnh" (sự tập trung), con người dễ rơi vào tình trạng "học nông cạn", biết nhiều nhưng không sâu, không thực sự nắm vững bất kỳ lĩnh vực nào.

4.     Cảnh báo về "dâm mạn" (lơ là) và "hiểm táo" (nóng nảy, hấp tấp):

Đây là hai căn bệnh của thời đại.

"Dâm mạn": Sự lười biếng, trì hoãn được nuôi dưỡng bởi các thú vui dễ dàng (game, phim ảnh, mạng xã hội).

"Hiểm táo": Xu hướng muốn "thành công overnight" đầu tư ăn xổi, hay nóng nảy trong giao tiếp và công việc.

Cả hai trạng thái này đều phá hoại sự nghiệp và nhân cách của một người, khiến họ không thể "luyện tinh" (dốc hết tinh thần) và "dưỡng tính" (trau dồi tính tình).

5.     Giá trị của thời gian trong một thế giới bận rộn:

Câu "năm tháng trôi qua, ý chí tiêu mòn" như một hồi chuông cảnh tỉnh. Nó thúc giục chúng ta sống có chủ đích, biết đầu tư thời gian vào những việc ý nghĩa: học một kỹ năng mới, chăm sóc gia đình, rèn luyện sức khỏe, thay vì để nó trôi qua một cách vô ích.

  Kết luận: "Giới Tử Thư" của Gia Cát Lượng, xét cho cùng, là một bản đồ tâm hồn để mỗi người tự hoàn thiện chính mình. Những lời dạy ấy không hề cũ kỹ mà ngược lại, chúng như một ngọn hải đăng soi sáng trong cơn bão tố của cuộc sống hiện đại - nơi con người dễ bị lạc lối giữa những giá trị ảo và sự xô bồ.

  Bài học lớn nhất mà chúng ta có thể rút ra cho hôm nay có lẽ là: Hãy dành thời gian cho sự TĨNH LẶNG để biết mình thực sự muốn gì (MINH CHÍ); dùng sự GIẢN DỊ để giữ mình khỏi những cám dỗ; và lấy Ý CHÍ để kiên trì HỌC TẬP, không ngừng phát triển bản thân. Có như vậy, chúng ta mới không trở thành "kẻ khô héo" bên lề xã hội, mà sẽ sống một cuộc đời trọn vẹn, có ý nghĩa, không phải hối tiếc khi nhìn lại.

18 tháng 10 2025

Lâm Giang Tiên

Bài thơ 臨江仙 (Lâm Giang Tiên) của tác giả Dương Thận (楊慎) thời Minh.

臨江仙 

滾滾長江東逝水,

浪花淘盡英雄。

是非成敗轉頭空。

青山依舊在,

幾度夕陽紅。

 

白髮漁樵江渚上,

慣看秋月春風。

一壺濁酒喜相逢。

古今多少事,

都付笑談中。


Phiên âm:

Lâm Giang Tiên

Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ,

Lãng hoa đào tận anh hùng.

Thị phi thành bại chuyển đầu không.

Thanh sơn y cựu tại,

Kỷ độ tịch dương hồng.

 

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,

Quán khan thu nguyệt xuân phong.

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.

Cổ kim đa thiểu sự,

Đô phó tiếu đàm trung.


Dịch nghĩa:

Sông Dương Tử chảy về hướng đông, sóng cuốn trôi anh hùng. Đúng sai, thành bại đều vô ích, núi xanh còn đó, hoàng hôn đỏ thắm mãi không thôi. Người đánh cá tóc bạc, người đốn củi bên bờ sông quen ngắm trăng thu gió xuân. Một bình rượu đục mang niềm vui đoàn tụ, mọi chuyện xưa nay hóa thành chuyện cười.


Dịch thơ:

Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông

Sóng vùi dập hết anh hùng

Được, thua, thành, bại, thoắt thành không

Non xanh nguyên vẻ cũ

Mấy độ bóng tà hồng.


Bạn đầu bạc ngư tiều trên bãi

Đã quen nhìn thu nguyệt xuân phong

Một bầu rượu vui vẻ tương phùng

Xưa nay bao nhiêu việc

Phó mặc nói cười suông.

(Bản dịch của Phan Kế Bính)


Thư pháp của Phùng Tuyết Lâm

Bài thơ này, đặc biệt là hai câu kết, đã được La Quán Trung dùng làm mở đầu cho tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa, ngay lập tức đặt toàn bộ câu chuyện anh hùng hừng hực khí thế vào một viễn cảnh lịch sử đầy tính triết lý và ngậm ngùi.

Nó như một lời bình: Dù có những nhân vật lẫy lừng như Lưu Bị, Tào Tháo, Quan Vũ, Gia Cát Lượng... với những mưu đồ bá chủ, thì cuối cùng, tất cả cũng đã trở thành quá khứ, chỉ còn là câu chuyện để đời sau bình phẩm, kể lại trong những buổi trà dư tửu hậu.

21 tháng 8 2025

Vì sao người Trung Quốc nuôi gà trống để trừ tà

Gà trống là một con vật có tính thuần dương trong phong thủy. Gà trống có ngũ đức (五德) và tam thông (三通). Đỉnh đầu có mào tượng trưng cho Văn Đức (文德), chân có cựa tượng trưng cho Võ Đức (武德). Gà trống có tập tính bảo vệ gà con nên có Dũng Đức (勇德). Nết ăn uống của gà không độc chiếm nên có Nhân Đức (仁德). Cứ đúng giờ thì gà trống gáy nên đáng tin cậy, tức có Tín Đức (信德).



Dương khí của gà trống quan trọng đối với phong thủy của căn nhà như thế nào?

  • Gà trống già (nuôi được 3 đến 5 năm) có dương khí vô cùng mạnh. Cổ nhân dạy rằng gà không nuôi quá 3 năm, chó không nuôi quá 6 năm là vì thế.
  • Lúc gà trống già gáy, âm thanh rền vang có thể xua tan bầu không khí âm u ảm đạm, có thể thấy sức lạnh của dương khí.
  • Gà trống được nuôi lâu năm có màu lông bóng mượt đầy sức sống, dương khí tứ bề tụ về.
  • Người ta nói rằng người bệnh lâu ngày nếu uống một chén canh thịt gà trống thì có thể bù dương khí cho cơ thể, sức khỏe mau phục hồi.
  • Gà trống già đi bộ trong sân, ưỡn ngực ngẩng đầu hừng hực tiến bước nên dương khí sung mãn.
  • Khi gặp phải tai họa, người ta thường nghĩ tới gà trống già. Bởi dương khí của nó có thể trấn yểm tà khí.
  • Mắt của gà trống già lanh lợi, giống như luồng khí có sức mạnh.
  • Gà càng được nuôi lâu, dương khí cành mạnh, khiến cho con người không dám xem thường.
  • Trong tập tục truyền thống, gà trống già thường được dùng làm vật trừ tà nên được dùng làm cỗ cúng.
  • Cựa gà trống có lực như hàm chứa dương khí cực mạnh vậy.
  • Mào gà đỏ thắm giống đám lửa của dương khí đang cháy.
  • Dù là ngày đông lạnh lẽo, gà trống già vẫn tràn đầy sức lực.
  • Khí thế của gà trống già khiến cho một số động vật nhỏ không dám lại gần. Bởi vì sức mạnh của dương khí của nó.
  • Đặt gà trống già ở nơi có dương khí tương đối mạnh, nó có thể gây ra đối kháng dương khí.
  • Sự tồn tại của gà trống già giúp cho xung quanh nó có bầu không khí dương khí mạnh mẽ.

Vùng núi cao ở Trung Quốc còn có tập tục, vào đêm giao thừa họ đem gà trống nuôi lâu năm cột ở trước cửa chính để mong nó ngăn cản xui xẻo tràn vào nhà ngay từ giây phút đầu tiên của năm.

===

"Tam thông" của gà trống là cách nói dân gian chỉ ba khả năng đặc biệt giúp nó cảm nhận và cảnh báo thế giới tâm linh, bao gồm:

Thị thông (Nhìn thấu): Khả năng nhìn thấy ma quỷ, vong hồn hoặc những thực thể vô hình mà mắt người không thấy được.

Thính thông (Nghe thấu): Khả năng nghe được những âm thanh siêu nhiên hoặc từ cõi khác mà tai người không nghe thấy.

Dự cảm thông (Cảm nhận): Khả năng linh cảm, dự đoán được nguy hiểm, tà khí hoặc điềm gở sắp xảy ra (như động đất, bão).

===



Ý nghĩa dân gian và tín ngưỡng nổi bật của gà trống trong văn hóa Việt Nam

1. Biểu Tượng Của Sự Khởi Đầu Tốt Lành và Xua Tan Tà Ma

Gáy báo sáng: Giống như nhiều nền văn hóa khác, tiếng gáy "ò ó o" vang lên lúc rạng đông của gà trống được coi là hiệu lệnh xua tan bóng tối, màn đêm - nơi được cho là chứa đầy âm khí và ma quỷ. Ánh sáng ban ngày tượng trưng cho dương khí, sự sống và an lành. Vì vậy, tiếng gáy của gà trống được tin là có khả năng trừ tà, đuổi ma quỷ.

Vật phẩm trấn trạch: Trong phong thủy, người ta thường dùng tượng gà trống (làm từ đồng, gỗ, đá...) để đặt trong nhà, nhất là quay hướng Đông (nơi mặt trời mọc) hoặc hướng về những nơi được cho là có sát khí để hóa giải, mang lại bình an cho gia chủ.

 

2. Biểu Tượng Của "Ngũ Đức" - Năm Đức Tính Cao Quý

Người Việt cũng quan niệm gà trống sở hữu năm đức tính của một bậc quân tử, tương tự như trong văn hóa Trung Hoa nhưng được diễn giải rất gần gũi:

Văn (Vẻ đẹp): Cái mào đỏ rực, oai vệ như chiếc mũ của một võ tướng.

Võ (Sức mạnh): Cựa sắc nhọn như lưỡi dao, dùng để chiến đấu và tự vệ.

Dũng (Lòng dũng cảm): Dám đương đầu với kẻ thù để bảo vệ đàn.

Nhân (Lòng nhân ái): Tìm thấy mồi ngon thì cục tác gọi cả đàn đến cùng ăn.

Tín (Chữ tín): Gáy đúng giờ mỗi sáng, không bao giờ sai, là chiếc đồng hồ báo thức đáng tin cậy của làng quê.


3. Vật Hiến Tế Quan Trọng Trong Các Nghi Lễ

Gà trống là lễ vật không thể thiếu trong nhiều nghi lễ truyền thống của người Việt:

Cúng gia tiên, thần linh: Trong các dịp giỗ, Tết, lễ quan trọng, một con gà trống thiến luộc chín, tạo thế "đầu ngẩng cao" (thể hiện sự oai phong) là mâm cỗ trang trọng dâng lên tổ tiên, thần thánh.

Lễ ăn hỏi (Đám cưới): Con gà trống luộc (có nơi là gà sống) là một trong những lễ vật bắt buộc trong mâm quả nhà trai đem sang nhà gái, tượng trưng cho lời chúc phúc về một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, viên mãn và sự thịnh vượng.

Lễ tế thần, khai trương, động thổ: Gà trống được dùng để cúng trong các nghi lễ quan trọng của cộng đồng, cầu mong mọi sự suôn sẻ, may mắn.


4. Phương Tiện Bói Toán (Xem Gà)

Xem chân gà (Bói chân gà): Sau các buổi lễ lớn, người ta thường giữ lại chân gà trống đã cúng. Cách các sợi gân, đường vân và hình dáng chân gà sau khi luộc được các thầy cúng hoặc người có kinh nghiệm "xem" để tiên đoán vận mệnh, điềm lành hay dữ cho gia chủ hoặc cho cộng đồng. Đây là một tín ngưỡng dân gian còn tồn tại ở một số vùng.


5. Biểu Tượng Quốc Gia và Văn Hóa

Hình ảnh trên "Cờ Gà" của Đồng Bằng Bắc Bộ: Trong văn hóa dân gian, đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, hình ảnh con gà trống được in trên lá cờ nhỏ (cờ mao) dùng trong các đám rước, lễ hội, biểu tượng cho sức mạnh và sự bảo vệ.

Tranh Dân Gian Đông Hồ: Tranh "Gà Đàn" (hình ảnh đàn gà con quây quần bên gà mẹ) hoặc tranh "Gà Trống" là những bức tranh Tết nổi tiếng, mang ý nghĩa cầu chúc gia đình đông vui, hòa thuận, con cháu đề huề và một khởi đầu năm mới thịnh vượng.


6. Linh Vật Trong Tín Ngưỡng và Truyền Thuyết

Gà trong Tín ngưỡng thờ Mẫu: Trong một số giá đồng của đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, gà trống cũng là một lễ vật dâng lên các Thánh.

Truyền thuyết "Sơn Tinh - Thủy Tinh": Trong truyền thuyết này, lễ vật của Sơn Tinh dâng lên vua Hùng để cưới công chúa Mỵ Nương có bao gồm chín cựa gà, cho thấy gà trống đã là một biểu tượng quý giá từ rất lâu đời.


Kết luận:

Ở Việt Nam, gà trống không chỉ là một con vật nuôi thông thường mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng đa tầng ý nghĩa. Nó tượng trưng cho sự dũng cảm, mạnh mẽ, trung thực, và khí chất của người quân tử. Đồng thời, nó cũng là sứ giả của sự khởi đầu tốt lành, may mắn, bình an và xua đuổi những điều xấu xa. Hình ảnh con gà trống in đậm trong đời sống tâm linh, các nghi lễ và cả nét đẹp văn hóa dân gian của dân tộc Việt.