Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà giang. Hiển thị tất cả bài đăng

19 tháng 8 2024

Cúc cam, loài hoa dại gây thương nhớ Hà giang

Khi đi du lịch Hà Giang mọi người thường nhắc đến tam giác mạch, một loài hoa dường như đã trở thành “thương hiệu” của vùng đất này. Tuy nhiên Hà Giang không chỉ có tam giác mạch mà còn nhiều, rất nhiều những loài hoa quyến rũ khác như hoa đào, hoa sở, hoa bạc hà... Trong đó, những bông hoa cúc dại mọc vẩn vơ ven đường cũng là lý do thôi thúc nhiều người đến với mảnh đất địa đầu Tổ quốc.

Sinh trưởng trong điều kiện khắc nghiệt nhưng loài hoa đơn sơ, bình dị này vẫn vươn mình làm đậm thêm nét đẹp cho cao nguyên đá. Hoa cúc dại mọc thành từng khóm, mỗi khi đón gió những cánh hoa mỏng manh, đung đưa, e thẹn hệt như những cô gái H'mông xinh đẹp. Là người tình mùa thu của Hà Giang, mùa hoa cúc dại điểm tô cho những con đường ngoằn ngoèo xuyên núi đá thêm chất thơ mộng.

Hoa cúc dại còn được gọi là cúc cam, là loại hoa mọc thành bụi xen giữa các phiến đá tai mèo. Loài hoa này mọc dại tự nhiên, khi những nương ngô chỉ còn trơ lại thân cây héo quắt thì cúc dại đã cựa mình trỗi dậy, nhuộm vàng rực rỡ cả một vùng.

Cúc cam không chỉ mang một vẻ đẹp cuốn hút mà còn ẩn sâu trong đó là một sức sống mãnh liệt. Nó tự mọc, sinh trưởng trên những mảnh đất đá khô cằn. Khi đến mùa, những bông hoa nhỏ xinh ấy nở rộ khắp thung lũng, vươn cao tấm thân lên trời đón ánh nắng

Lặng lẽ ủ mầm rồi đến mùa thu bừng lên dữ dội xen kẽ giữa lô nhô đá tai mèo, một ngày bất ngờ khiến bao khách qua đường phải ngẩn ngơ. Những cánh hoa vàng ánh cam mọc chen trong cỏ dại, vươn lên rực rỡ, cứng cỏi và chịu đựng gió sương.

Trên khắp các con đường từ Phố Cáo, Phó Bảng, Sủng Là... đến thị trấn Đồng Văn thì bạn rất dễ bắt gặp được những thảm hoa cúc cam rực rỡ như tiếp thêm hơi ấm cho miền cao nguyên. Du khách thường chọn những khu vực này làm điểm check in, khám phá, ngắm hoa và đá... Một cảnh tượng thật bình dị nhưng để lại những dấu ấn khó quên. Vào mỗi buổi chiều sẽ có lũ trẻ rủ nhau đến nơi có hoa để vui chơi, nô đùa.

Hoa cúc dại mang sắc cam đằm thắm vừa đủ để chói lóa nhưng lại không phô trương. Đó như là một sự thách thức với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Ai đã từng đến Hà Giang mùa hoa cúc cam chắc hẳn phải cảm thán mãnh liệt trước sự diệu kỳ của những bông hoa bé nhỏ này. Trên vùng đất cằn cỗi, hoa vẫn tỏa sáng rực rỡ đến vậy. Để rồi cứ thế làm bao nhiêu kẻ lữ hành phải "thầm thương trộm nhớ" mà tìm về để tận mắt chiêm ngưỡng cho thỏa nỗi khát khao

Có những nơi trên cao nguyên đá, hoa cúc chen chân và kề bên nhau tạo thành một thảm hoa đẹp đến mê hồn. Bên cạnh con đường lưng trời với cảnh núi non hùng vĩ, hoa cúc dại điểm tô cho bức tranh cao nguyên thêm lộng lẫy và có vẻ gì như hoang vắng, xa xôi.

Vào những ngày mùa thu, hoa cúc cam khiến cảnh sắc ở Hà Giang đẹp đến nao lòng khiến bao người phải dừng lại một chút, thả hồn mình vào hoa. Ở đây, nhiều người gọi khoảng thời gian này bằng một cái tên "mùa hoa cúc cam Hà Giang".

Giữa đất trời lồng lộng, những vạt hoa cúc dại bên đường khiến cảnh sắc Hà Giang in vào tâm trí, làm cho du khách không thể không dừng lại một chút, ngắm những bông hoa và hòa mình vào thiên nhiên, cảnh sắc tuyệt vời của vùng cao nguyên đá.

Hoa cúc dại Hà Giang mọc tự nhiên trên những thửa ruộng như các loài hoa khác. Cứ thế từng thảm hoa cam rực rỡ tự mọc và phát triển trên nền đất đá khô cằn. Khắp các thung lũng, sườn núi cũng tràn ngập sắc hoa lung linh, hòa quyện cùng ánh nắng của vùng cao nguyên đá tạo nên một khung cảnh thiên nhiên vô cùng hùng vĩ và tuyệt đẹp.

Chúng tôi lên Hà Giang vì có thêm một tình yêu khác, vì loài hoa cúc dại, vì những vạt hoa đáng yêu, không nề hà nở hoa trên những phiến đá tai mèo. Hoa chen cùng những thân ngô, vươn mình đón ánh nắng mặt trời. Hoa tô điểm cho con đường ngoằn ngoèo xuyên núi xuyên đá, làm nao lòng du khách đường xa.

Với nhiều người, nỗi nhớ về  Hà Giang, là ở đó, giữa những vạt đá tai mèo hiểm trở, đâu đó trong vườn nhà, hoa cúc cam đang nở cho một mùa quả mới. Ở đó, cùng với màu nắng rót vàng như mật là màu của những thân ngô đã khô cháy, màu của hoa bạc hà tím nhạt, màu của đỗ tương vàng óng.

Cao nguyên đá, bốn mùa là những bức tranh tuyệt đẹp khác nhau và mùa nào cũng khiến người đến không muốn dời chân ra về. Ở đó, đang trong mùa thu vàng rực rỡ nhất với những triền hoa cúc dại rực rỡ trên những sườn núi chênh vênh.

Một số hình ảnh về hoa cúc cam trên Cao nguyên Đá Đồng Văn:

















14 tháng 8 2024

Tiếng gọi của tự do

(Bài viết của nhà văn Nguyên Ngọc)

Việt Bắc bấy giờ xa cách Khu 5 ba tháng lội bộ vượt Trường Sơn. Năm 1950 mở biên giới phía bắc nối với Trung Quốc và Liên Xô, hai năm sau, hơi hướng của ngọn gió lạ (về sau hóa ra là cả một cơn bão dữ) từ Việt Bắc mới vượt Trường Sơn phả vào tới Khu 5. Chỉnh huấn, chỉnh quân, giáo dục quan điểm đấu tranh giai cấp...

Năm 1953 Khu 5 dè dặt bắt đầu giảm tô và thí điểm cải cách ruộng đất... Về sau tôi sẽ biết chỉ mới một chút dè dặt đó đã để lại biết bao nhiêu hậu quả bi thương. Còn lúc bấy giờ tôi là cậu học trò hăng say và lãng mạn mới vào bộ đội, với giấc mơ tráng sĩ học được trong sách. Và còn mối tình đầu của tôi nữa...

Nhà văn Nguyên Ngọc

Tôi vào bộ đội, được đưa lên trường lục quân Khu 5 bấy giờ đóng ở Đồng Ké, Quảng Ngãi, cũng lăn lê bò toài, nhưng chỉ ít lâu không biết do ai giới thiệu, được lệnh rút về báo Vệ quốc quân Liên khu 5, đóng ở Xuân Phổ, Nghĩa Kỳ, bên bờ sông Trà. Chiến tranh, nhưng ở đây vẫn rất thanh bình, Nghĩa Kỳ có nghề làm mía nấu đường, chúng tôi sống trong nhà dân, sáng nào cũng được bà con cho uống nước “chè hai” tức nước đường vừa chín tới chưa kịp cô đặc, và ăn khoai lang nhúng trong nước chè hai nóng hổi ngon tuyệt.

Cùng về báo với tôi còn có Ngọc Anh, tác giả Bóng cây Kơnia sau này. Cả Lê Công Thành nữa, mấy mươi năm sau sẽ trở thành một nhà điêu khắc hàng đầu của nước ta. Bên cạnh tòa soạn báo, có bộ phận văn nghệ, ở đấy có anh Dương Minh Ninh, anh Lê Trọng Nguyễn, anh Lưu Nghi Hội An ngày trước của tôi, có Phạm Thế Mỹ người sẽ trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng ở miền Nam thời chính quyền Sài Gòn...

Những người tài hoa một thời, khi chưa có gì bộc lộ rõ rệt cả, khi tất cả đều còn tiềm tàng, tiềm ẩn, tương lai còn vô số khả năng, cuộc đời rồi sẽ đưa chúng tôi đi theo những con đường không thể ngờ, mỗi người sẽ có một số phận vậy mà hóa ra hết sức khác nhau, dắt dẫn bởi vô số căn nguyên không ai biết trước, thấy trước được dẫu hẳn ngay ngày đó đã âm thầm tích lũy mà nào có ai trong chúng tôi ngờ được. Anh chàng Trương Qua nhạt phèo chúng tôi thường gọi là “họa sĩ sạch sẽ”, bức tranh nào của anh cũng sạch bong như vừa được lau chùi, là tác giả có đến giải thưởng Hồ Chí Minh, anh Dương Minh Ninh tài hoa nhất của chúng tôi thì mãi mãi vô danh trong một thị trấn vô danh bên con đường lên Đà Lạt, lầm lũi đi dạy nhạc cho những đứa trẻ ở đấy để kiếm miếng ăn qua ngày...

Còn tôi ngày ấy là ai? Là ai cái cậu bé mới rời ghế nhà trường, say sưa hát “Xếp bút nghiên”, hăm hở đi vào chiến tranh như đi vào ngày hội, trong đầu vẫn âm âm tiếng hát “Mưa rơi trên sân, mái nhà nghiêng dần...” của người con gái đứng trước tấm màn xanh một màu xanh kỳ lạ, xanh đến vĩnh cữu, màu xanh của tình yêu, của tình đầu. Trong đầu cậu con trai ấy lời hát “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu, xếp bút nghiên coi thường công danh...” với “mái nhà nghiêng dần, ôi buồn trời mưa...” hoàn toàn hòa làm một, chẳng hề đối chọi nhau, chẳng chút lấn cấn nào cả.

Chắc cũng như Quang Dũng, “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc” với “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” hoàn toàn là một. Chúng tôi ngày ấy là vậy đó, giấc mơ tráng sĩ và tâm hồn học trò, trong mỗi chúng tôi là cả hai. Để tôi nói luôn điều này: một trong những trận đánh đầu tiên của tôi là trận đánh đồn Kỳ Lam bên bờ sông Thu Bồn. Đêm ấy tôi đi với bộ phận đánh khu hành chính đóng ở ga Kỳ Lam. Đánh suốt ba tiếng đồng hồ, diệt gần hết các mục tiêu rồi, nhưng còn một khẩu đại liên địch bắn bao nhiêu phát DKZ vẫn không sao bắt nó câm họng được.

Tôi nằm ở hàng đầu, cạnh một người lính trong đêm không sao trông rõ mặt. Đạn đại liên bắn rát, đến sém cả tóc. Tôi nằm úp mặt xuống đất mà chịu đựng. Bỗng người lính nằm bên cạnh tôi nắm cả đầu tóc tôi kéo ngược lên và mắng: “Có chết cũng ngẩng đầu lên mà chết, sao lại cúi gầm mặt xuống đất thế!”. Tôi không nhìn rõ mặt người lính ấy, mãi mãi không biết tên anh, cũng không biết là anh còn hay mất. Nhưng đấy là bài học chiến đấu, và bài học làm người đầu tiên của tôi. Suốt đời tôi sẽ nghe vọng mãi lời mắng: “Ngẩng đầu lên! Có chết cũng ngẩng đầu lên mà chết!”...

Tôi đi vào đời như vậy đó, lãng mạn và hiện thực, mềm yếu và rắn rỏi, những vô tư còn chưa tan và những suy tư nghiêm khắc đầu tiên cuộc chiến dạy cho.

Tôi về tòa soạn báo Vệ quốc quân Khu 5, viết những mẩu tin đầu tiên cho báo, thỉnh thoảng tập tò viết đôi cái chẳng ra tường thuật cũng chẳng ra bút ký. Đi tham gia một số chiến dịch, ở Sơn Hà miền tây Quảng Ngãi, ở Điện Bàn - Quảng Nam. Thư ký tòa soạn (đúng ra là chủ nhiệm báo) là anh Trương Khả Liệu (về sau do hoàn cảnh gia đình anh ra khỏi bộ đội, và không đi tập kết. Anh ở lại Sài Gòn, trở thành một nhà thơ ít nhiều có tên tuổi) hỏi tôi muốn làm gì nữa. Tôi trả lời ngay: Xin đi xuống đơn vị chiến đấu, làm phóng viên cũng được, nhưng phải ở đơn vị chiến đấu. Và lên chiến trường Tây Nguyên. Ngọc Anh cũng vậy, hai đứa nằng nặc đòi đi. Và được chấp nhận ngay.

Tại sao lại là Tây Nguyên, nhất thiết Tây Nguyên?

* * *

Trong tủ sách gia đình của ba tôi ngày trước ở Hội An, không có Lan Khai. Tác giả này bị ba tôi liệt vào loại sản xuất hàng chợ. Nhưng tôi có lén đọc được ở nhà anh Châu Tường Anh. Hình như có một số tiểu thuyết tình ái gì đó, nhưng tôi chỉ nhớ những cuốn gọi là “Truyện đường rừng” của ông. Ông viết về những người Mèo trên vùng cao Hà Giang. Hóa ra sau này đấy sẽ là một vùng đất rất quen thuộc, cả thân thiết nữa của tôi, những Đồng Văn, Mèo Vặc, Lũng Cú, Xà Phình, Lũng Phìn, Quản Bạ, Yên Minh. Thậm chí ở đó tôi đã biết một người con gái không thể quên, một người đàn bà Mèo có số phận lạ lùng, mà tôi cũng có phần gắn bó trong số phận và sự lạ lùng đó. Lên vùng cao Hà Giang, tôi biết Lan Khai, bấy giờ sống ở Tuyên Quang, có lên xa lắm cũng chỉ đến thị xã Hà Giang.

Truyện đường rừng của ông viết về người Mèo vùng cao biên giới là do ông nghe ai đó nói lại, người nói lại ấy thì nghe một người khác nói lại... cứ thế chắc qua hàng chục trung gian, cũng có nghĩa là qua hàng chục lần tưởng tượng, hư cấu, sáng tạo. Và ông nhà văn ngồi ở Tuyên Quang, là vùng đất của người Tày, lại dùng cái đầu óc càng giàu tưởng tượng của ông mà thêu dệt thêm ra và viết cho khách Hà Nội, cho cả lũ độc giả vừa lớn lên chúng tôi vồ vập ngốn ngấu. Mà người Mèo là một loại người rất đặc biệt, có gì đó gần với người di gan ở châu Âu, chỉ riêng hình ảnh của họ qua vài lần thoáng nhìn thấy thôi, cũng đủ để cho một người bình thường tha hồ hình dung ra bao nhiêu “truyền thuyết” ly kỳ, huống nữa là nhà văn.

Sau này tôi có đọc được một cuốn sách của một linh mục tên là Savina, cuốn Lịch sử người Miêu (Histoire des Miao của François Marie Savina). Lần theo những con đường của ngôn ngữ học, Savina cho rằng người Miêu, tức người Mèo hay người Mông, vốn có quê gốc lâu đời ở miền đất nằm giữa Lưỡng hà và biển Aral, có tiếng nói gần với tiếng... Phần Lan. Về sau các dân tộc ly tán, người Miêu có một cuộc di cư dài và kỳ lạ, lên tận vòng tròn Bắc cực. Chính vì thế mà trong các truyền thuyết của người Mèo có chuyện đêm dài sáu tháng, ngày dài sáu tháng. Từ Bắc cực họ lại đi dần xuống vùng sông Dương Tử, chiếm miền Trung Nguyên của lục địa Trung Hoa trước khi người Hán đến. Sau đó bị người Hán tràn phía tây sang đánh đuổi, phải chạy dần về phương nam. Khi người Miêu đi về nam, thì các tộc người khác đã chiếm hết các đồng bằng trên lục địa rộng lớn này, nên con đường di cư của họ toàn phải đi trên các đỉnh núi chót vót.

Cao nguyên đá Đồng Văn

Có lẽ đấy là một cuộc đi kỳ lạ nhất trong lịch sử loài người, chuyển từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác, phiêu bạt suốt mấy nghìn năm trên hàng vạn hay hàng triệu cây số, biến họ thành một tộc người chuyên sống trên độ cao chót vót, chỉ có thể sống trên cao chót vót, quen với áp lực của không khí loãng, với những ngọn núi tai mèo lởm chởm cực kỳ cằn cỗi mà họ khai thác tài tình không ai bằng, và chính họ đã tìm ra và là chuyên gia hạng nhất của loại cây sinh lợi nhiều nhất, quyến rũ nhất trên đời: cây thuốc phiện. Savina đã viết những trang say mê hết lời ca ngợi người Mèo.

Mấy nghìn năm trôi dạt giữa hàng chục, hàng trăm dân tộc khác biệt và thù địch, không tổ quốc, không quê hương cố định, vậy mà ý thức gắn bó dân tộc, ý thức về một quốc gia, một quốc gia thường xuyên lưu động lại hết sức sâu đậm, giữ nguyên được ngôn ngữ và bản sắc độc đáo của mình, hầu như không hề suy suyển, pha tạp. Trên đường đi về nam, họ vào Việt Nam ở đỉnh Lũng Cú, chiếm vùng cao nguyên đá kỳ dị Đồng Văn, Mèo Vặc, tràn tiếp sang Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, rồi bắc Lào, Thái Lan, Miến Điện...

Người Mèo mạnh mẽ, đằm thắm, trữ tình, mê đắm, mà cũng có thể hung dữ; đàn ông Mèo với khẩu súng kíp tự chế dài ngoẳng là những người chiến binh hầu như không thể đánh bại; đàn bà Mèo cần cù, khéo léo, chịu thương chịu khó, mà cũng lãng mạn, tự do, quyến rũ nhất thế gian... Savina viết: “... sự tồn tại của dân tộc có quá khứ năm nghìn năm này thật sự là một sự kiện lịch sử; việc họ giữ nguyên được ngôn ngữ của mình, không cần có trợ giúp của bất cứ thứ chữ viết nào, bên cạnh những sự ngôn ngữ khác, nhất là ngôn ngữ Trung Hoa có từ năm mươi thế kỷ là một hiện tượng ngôn ngữ học có thể duy nhất trên thế giới...

Dân tộc kỳ lạ chưa hề bao giờ biết đến một tổ quốc cố định này, cũng chưa hề biết đến nô lệ. Độc lập là dấu hiệu khác biệt của người Mèo mọi thời... Một người Mèo già nói: “Chúng tôi biết danh tiếng người ta gán cho chúng tôi. Chúng tôi bị coi là một dân tộc hiếu chiến, tàn ác, là kẻ thù của mọi người. Nếu anh muốn biết sự thật về dân tộc chúng tôi, hãy đi mà hỏi con gấu bị thương vì sao nó chống cự, con chó bị người ta đánh vì sao nó gào thét, con nai bị săn đuổi vì sao nó chạy từ núi này sang núi khác... Dân tộc này, độc lập một cách hung dữ, thà chết và lưu vong chứ không chịu làm nô lệ...”.

Giá ngày ấy Lan Khai đọc được đôi chút Savina thì tiểu thuyết đường rừng về người Mèo của ông còn có thể huyền hoặc hơn nhiều. Nhưng những truyện bịa khá ngờ nghệch của ông ngày nay đọc lại cũng đủ để đánh thức trong tôi một “ẩn ức” tiềm thức: khao khát tự do, không hiểu sao lại đồng nghĩa với núi rừng mơ hồ và xa xôi, với những “rẻo cao”, những bí ẩn rừng rú vừa đáng sợ vừa đẹp, đẹp chính vì đáng sợ, như là tiếng gọi của tự do ấy...

Nguyên Ngọc

(Bài đăng trên tạp chí điện tử Người Đô Thị năm 2016)

Em bé HMong ở dốc Thẩm Mã

05 tháng 8 2024

HOA TAM GIÁC MẠCH Ở LŨNG TÁO

Lũng Táo là 1 xã trồng nhiều cây Tam giác mạch.
Mùa hoa tam giác mạch thường vào tháng 10, 11 hàng năm, được trồng nhiều tại các huyện vùng Cao nguyên đá Đồng Văn. Hoa tam giác mạch còn có tên khác gọi là Mạch Ba Góc, là loại thân cỏ cao 30-80 cm. Khi mới nở ra hoa có màu mạch trắng rồi chuyển dần sang màu phớt tím.


Màu hoa tam giác mạch lúc mới nở chủ yếu là trắng, hồng phớt. Sau đó, khi nhiệt độ thấp hơn và không khí lạnh bao trùm, hoa sẽ có sắc chủ đạo là tím, hồng đậm.


Trước đây, hoa tam giác mạch chủ yếu được trồng để lấy hạt, làm bánh ăn dự trữ chống đói cho người dân vào mùa giáp hạt. Đây còn là một vị thuốc Đông y, kiều mạch có vị chát, hơi the, tính bình, có tác dụng lợi thấp, tiêu thủng, thanh nhiệt giải độc.



Vào mùa, sắc hồng của loài hoa tam giác mạch trải dài thành các cánh đồng, chênh vênh trên những phiến đá tai mèo, sau những ngôi làng cổ tại Hà Giang. Những bông hoa li ti khiến khung cảnh núi rừng vừa kỳ vĩ, vừa thơ mộng.



Một cô bé trong vườn tam giác mạch ở Lũng Táo, Đồng Văn, hầu hết các vườn tam giác mạch đều có thu phí tham quan từ 10 đến 20 ngàn.



Ngô được trồng vào mùa xuân, thu hoạch vào mùa hè, sau đó sẽ được trồng tam giác mạch, khi thu hoạch ngô người ta sẽ đánh thành đống để lấy về làm củi dùng dần trong mùa đông


(Ảnh: Son Hoa photo)

Để đến được các điểm có hoa tam giác mạch nở nhiều như Ma Lé, Phố Cáo, Sủng Là, cột cờ Lũng Cú,… Du khách có thể thuê xe máy ở TP Hà giang để di chuyển giữa các điểm này thuận tiện và chủ động hơn. Đặc biệt là được thỏa sức hòa mình vào thiên nhiên, được ngắm nhìn Hà Giang một cách thực nhất và gần nhất. Ngoài ra, du khách còn trải nghiệm được cảm giác chinh phục những con đường quanh co thú vị.

04 tháng 8 2024

MÙA HOA THUỐC PHIỆN CUỐI CÙNG

Tác giả: Nguyên Ngọc

Anh Ngọc ạ, đây là mùa hoa thuốc phiện cuối cùng của vùng tôi đấy. Đến hè sang năm thì chỗ này đã trắng cờ ngô rồi!

Tôi đi cùng chị Vàng Thị Mỹ, chủ tịch xã Miêu Cao, một buổi sáng ở biên giới. Chị Mỹ là một thiếu phụ Mèo, tuổi có lẽ khoảng 27, 28, người nở nang và gọn. Chị không cạo tóc như những phụ nữ Mèo tôi thường tiếp xúc; mặt chị đúng hình trái xoan, đôi mắt màu nâu rất ướt, sắc nhưng vẫn dịu dàng.Hai hàng lông mày nhẹ phơn phớt bay lên như đôi cánh chim. Chị đi rất nhanh, khi xuống dốc cũng như khi lên dốc, tôi cố lắm mới theo kịp. Đôi bắp chân chị hôm nay không quấn xà cạp, khỏe quá, cứ lướt phăng phăng. Đã nhiều lần chúng tôi vượt cả những đoàn ngựa thồ chở hàng mậu dịch lên rẻo cao, những đoàn ngựa đặc biệt là Hà Giang, lúc nào cũng trầm mặc và quy củ; tiếng nhạc ngựa rộn rã sau lưng chúng tôi xa dần trong sương cho đến khi chỉ còn là một thứ âm vang như vọng từ một chuyện cổ tích Mèo trở về.

Lên khỏi dốc Phó Lương, chị Mỹ dừng lại. Chị đưa tay chỉ cho tôi một cánh nương lởm chởm đá tai mèo ở lưng chừng sườn núi còn vướng đầy sương. Chị nói, tôi ngạc nhiên nghe giọng chị như có hơi run run:

– Anh Ngọc trông kìa, thế mà hoa thuốc phiện đã nở rồi!

Hoa thuốc phiện đã nở rồi thật. Các bạn đã thấy hoa thuốc phiện nở trên những nương đá bao giờ chưa? Thật là đẹp! Thoạt đầu là một đóa trắng, trong sáng và trinh bạch, nở một mình giữa đám thuốc phiện còn xanh. Rồi lốm đốm những hoa trắng nở đây đó; rồi thì đột ngột, bừng nở một bông hoa tím quyến rũ, lẳng lơ và yếu đuối lạ lùng. Cần đài hoa màu tím sẫm lại như ướt. Gió thổi bạt cánh hoa mong manh. Trời ấm lên một chút. Thế là mùa hè đã bắt đầu! Tôi bảo:

– Ờ, mà hoa thuốc phiện nở rồi nhỉ, nhanh thật!

Tôi bỗng thấy đôi mắt chị Mỹ long lanh. Chị lại nói với tôi, vẫn giọng run run ấy – người nữ cán bộ Mèo đó vẫn thế, chị nói chuyện với ta nhưng ta vẫn tưởng như chị đang tự trả lời những suy nghĩ nào đó dồn lên trong lòng chị. Chị bảo:

– Anh Ngọc ạ, đây là mùa hoa thuốc phiện cuối cùng của vùng tôi đấy. Đến hè sang năm thì chỗ này đã trắng cờ ngô rồi!

Chúng tôi lại đi. Bây giờ chị càng đi nhanh hơn, hai bắp chân như hai con chim, ức rất trắng nhảy nhảy trong cỏ sương dày của đường núi. Hai bên đường lác đác đã có những hoa thuốc phiện màu tím nhạt, màu hồng, màu đỏ thắm, màu vàng, và màu gì đó nữa, gần như là xanh. Chị Mỹ lại nói, tôi không nhận ra được tiếng nói của chị nữa vì giọng nói bỗng có chen rất nhiều những tiếng vui phấp phới, nhảy nhót, và lời nói thì hoạt bát, trau chuốt hẳn đi:

– Anh Ngọc ơi, này, thế là từ nay phụ nữ Mèo chúng tôi không làm nô lệ cho nó nữa đấy, anh Ngọc ạ. Anh mới lên trên này, anh ạ, anh chưa rõ đấy, đời người con gái Mèo ấy mà, như là chôn dưới gốc cây thuốc phiện. Tôi ghét hoa thuốc phiện từ bé. Mỗi lần hoa thuốc phiện nở là đời người con gái Mèo chúng tôi tan nát thêm một lần, anh Ngọc ơ!…

Thế rồi, rất đột ngột và từ nhiên, chị cất tiếng hát. Tôi mới học lắp bắp đôi tiếng Mèo, chỉ nghe được bài hát láy đi láy lại mãi một câu:

“Tu tè chi dù ừ mưng! Tu tè chí dù ừ mưng!” (HỠI ANH THANH NIÊN MÈO ƠI!)

Nhưng rõ ràng tiếng hát không đựng hết một nỗi thèm khát trời xanh và sự sống xao xuyến lạ lùng. Tôi thật lấy làm lạ. Mới tối hôm qua chị cán bộ Mèo ấy còn nói với tôi những câu tiếng Kinh vụng về làm cả cơ quan huyện ai cũng cười bò ra: “Anh ơi, tôi ngủ không có màn, con muỗi nó ăn tôi rồi!”. Thế mà bây giờ…

Tôi bỗng sực hiểu ra rằng tôi đang đi với một người con gái có rất nhiều tâm sự chất chứa trong lòng. Đến lúc chị ngừng hát, tôi bảo:

– Chị Mỹ ơi, chị kể cho tôi nghe về cây thuốc phiện đi, cây thuốc phiện với người con gái Mèo ấy mà!

 

Một nhan sắc của núi rừng: Thào Mỹ ngày xưa

…Từ đó đến chiều tối, tôi không còn nhớ là chúng tôi đã vượt qua mấy cái dốc đá rất cao của dãy núi Tây Côn Lĩnh. Chị Mỹ đi rất khỏe, những lúc lên dốc ngược chị vẫn không chậm chân chút nào, câu chuyện không hề bị ngắt quãng, chỉ có chen nhịp thở hơi dồn dập mà vẫn kín đáo của người phụ nữ…

Hôm ấy là một phiên chợ Mèo. Chợ Miêu Cao như một bàn tay, nằm trong lòng một thung lũng hẹp và sâu chẳng khác gì một cái giếng. Từ tảng sáng, trên các sườn núi, người ta đã đổ xuống chợ từng dòng. Trong sương, nghe thấy tiếng nhạc ngựa loong coong, tiếng cười ríu rít, tiếng nói ồ ồ của những thanh niên Mèo, tiếng khèn dập dìu. Loáng thoáng những váy trắng, những ô hoa. Người ta đổ xuống chợ, đổ xuống chợ, như là sau một cơn mưa lớn nước không biết ở đâu ra mà nhiều thế dồn dập chảy về một chỗ trũng. Người ta đi chợ để bán đôi thứ lặt vặt: một củi tấu rau cải, vài đấu đỗ răng ngựa, một chõ xôi vàng rực gói lá dong, vài cân hoàng tinh, một ít củ từ…

Người đi bán rất ít, người đi chợ để chẳng bán gì cả lại nhiều hơn gấp bội. Cũng chẳng để mua gì cả. Người ta đi chợ để chơi, thế thôi! Đối với người Mèo, chợ là ngày hội.

Vàng Mi Xử, ông già ấy hôm nay cũng đi chợ, để chơi. Cũng như tất cả những người Mèo nghèo khổ, Vàng Mi Xử chọn đỉnh núi cao nhất để làm nhà, từ sau khi mảnh ruộng độc nhất của ông mất vào tay bọn chúa đất. Núi cao đến nỗi những ngày quang đãng nhất nhà ông cũng vẫn ở trong mây dày. Chung quanh nhà suốt năm chỉ có sự im lặng lạnh lùng của những dãy núi mênh mông. Mỗi lần ông nói, chỉ có những vách núi đá sừng sững ấy nghe ông nói, chúng trả lời ông bằng những tiếng âm vang ồ ồ nghe chẳng ra tiếng gì cả. Rồi thì lại im lặng. Những lúc buồn quá, ông nói chuyện với đứa con gái của ông, người thân thuộc độc nhất của ông còn lại ở đời. Năm nay nó lên mười một. Mắt nâu và ướt, cũng như mắt mẹ nó ngày trước, nó cũng ít nói, nó chưa được đi ra khỏi mấy cái vách núi đá vây quanh cuộc đời nhỏ hẹp của nó kia bao giờ. Ông già Xử rất buồn, ông sống im lặng, cô độc như một con thú…

Nhưng ông già vẫn thèm khát con người. Ông vẫn thèm khát được gặp con người, đông người, nhiều người, được nói với họ, hát với họ, cãi nhau với họ, say rượu với họ, đánh nhau với họ nữa cũng được, miễn là trong vài giờ đồng hồ, ông thoát được sự im lặng bằng đá sừng sững quanh năm này. Ông cặm cụi làm, đứa con gái của ông cũng cặm cụi làm. Hai cha con moi từng hốc đá cằn cỗi, cắm xuống đấy một cây bắp, một cây tam giác mạch, một cây bo bo. Năm nay, lần đầu tiên ông già Xử cắm thêm vào đấy một cây thuốc phiện. Bắp, tam giác mạch, bo bo thì để cho hai cha con ăn. Còn thuốc phiện, thuốc phiện thì là mơ ước của ông. Ông sẽ đem bán, đó là vàng đen, ông sẽ có tiền, ông sẽ tậu lại miếng ruộng đã mất dưới thung lũng kia. Cha con ông sẽ trở về dưới ấy, sẽ thoát khỏi cái im lặng cô độc bốn bề trên đỉnh núi cao này. Nửa đêm sương muối xuống dày như tuyết, ông già Xử trở dậy, đi ra nương. Ông phủi sương cho từng cây thuốc phiện non như những cây cải cúc hiền lành. Ông thức suốt đêm, vuốt ve từng gốc thuốc phiện, vuốt ve những ước mơ đẹp đẽ nhất của ông… Đến khi trời ấm lên một chút, trên nương đá lởm chởm của hai cha con bừng nở đóa hoa thuốc phiện trắng đầu tiên thì đứa con gái mười một tuổi thấy trong đôi mắt đục và giận dữ của cha nó một cái cười đầy hy vọng. Ông già vuốt tóc nó, nói với nó giọng ồ ồ:

– Năm nay ma quỷ giúp đỡ, may ra có thể đi chợ được, con ạ. Cha cho con đi chợ với cha nhé!

– Đi chợ à, là đi đâu, hở cha?

– Là đi đến chỗ đông người, hà hà, ồn ào lắm, vui lắm con ạ. Không im lặng như ở đây đâu…

Hôm nay ông già Xử đi chợ. Thỏi thuốc phiện giấu kín trong lưng quần. Ông đi tay không, áo rách bươm, đầu tóc hung hung đỏ của ông lờm xờm. Đứa con gái chạy theo sau, gấu váy của nó đã ướt đẫm sương. Chân nó ríu lên, nó hỏi:

– Cha ơi, chợ đây à?

Nó chỉ những hàng cây chằng chịt ở chân trời mà lần đầu tiên nó thấy. Cha nó cười:

– Không phải đâu, đấy là cây. Chợ là người kia! Hiểu chưa?

– Là người à!

Nó vẫn chưa hiểu…

Bây giờ thì nó hiểu rồi. Chợ nghĩa là người, người chen chúc nhau và cười nói, cãi nhau, đánh nhau, say rượu, là những con ngựa đực buộc ở mấy gốc cây gạo đánh hơi cái hý lên lanh lảnh, đá chân sau lia lịa lên trời; là tiếng khèn dìu dặt ôm lấy tất cả cái đám đông hỗn loạn ấy, là những cặp trai gái nữa, họ uống rượu với nhau, hát với nhau, rồi họ dẫn nhau đi đâu đấy, vào những hốc núi trong xa kia… Cha nó cũng chen vào giữa đám người đông như kiến, nó nắm chặt gấu áo cha, cố chen theo. Nó thấy cha nó nói thì thầm gì với một người nào đó. Người ấy lắc đầu quày quảy rồi quay đi. Một lát sau cha nó lại nói thì thầm với một người khác, người này có râu quai nón cạo rất nhẵn, và chỉ có độc một con mắt long lanh. Cha nó lấy gói gì giấu ở trong lưng quần, dúi vào tay người kia.

Người kia hỏi:

– Bao nhiêu?

– Mười đồng.

– Hứ hừ, năm thôi.

– Bảy vậy.

– Thêm một đồng cũng không.

Cha nó lắc đầu:

– Thế thì không được.

Ông lại nhét cái gói vào lưng quần. Người kia bỏ đi. Cha nó cũng bỏ đi. Bỗng người kia quay lại, con mắt độc nhất của hắn long lanh lên, hắn nắm tay ông cụ:

– Uống rượu đi! Hà hà! Uống rượu đã!

Cha nó bảo:

– Nhưng tao không có tiền!

– Cần gì, tao đãi, hà hà!

Nó đứng bên cạnh cha nó suốt từ trưa đến chiều, cho tới khi ông cụ say mềm, nằm vật ra giữa hàng rượu đã tàn. Chợ đã vãn. Nó khóc. Không ai dỗ. Nó khóc cho đến khi trời tối mịt. Sương đêm xuống, ướt đầm mái tóc ngắn của nó. Cha nó tỉnh lại, nó dìu cha nó về…

Đường núi đêm trăng heo hút, không một bóng người. Nó không hiểu gì cả về những việc đã xảy ra trong ngày hôm nay, ngày đầu tiên nó gặp người. Nó chỉ thấy một cái gì như là một sự tủi cực không cùng mà nó không giải nghĩa được, không nói ra được, tràn ngập tấm lòng nhỏ bé của nó. Có cái gì chưa thành hình đã vỡ đi, nó khóc, cha nó cũng sụt sịt khóc, không biết vì sao…

Bỗng, từ hốc đá bên đường bước ra một người. Dưới ánh trăng, nó nhận ngay ra đó là người có râu quai nón cạo nhẵn thín ở chợ lúc sáng. Người ấy to lớn, dạng chân đứng choán cả đường đi, ngửa một bàn tay rộng và lởm chởm những u những cục ra trước mặt cha nó, con mắt độc nhất cười hiểm độc:

– Đưa đây!

Cha nó tỉnh rượu hẳn rồi. Ông cụ nói:

– Bảy đồng, thiếu một xu cũng không được.

Tiếng cười của người kia rung chuyển cả sự im lặng của núi đá bốn bề:

– Bây giờ thì một xu cũng đừng hòng. Đưa đây!

Ông cụ chợt hiểu ra rồi. Mắt ông cụ long lên, đỏ như hai hòn máu, đó là cặp mắt của một con thú dữ bị lấn vào thế cùng. Ông cụ thét lớn:

– Tao vất vả một năm trời nay, mày muốn cướp của tao à, thằng chó chết!

Đứa bé chỉ kịp thấy cha nó chồm tới, nhưng người kia đã hoa lên một mũi súng kíp sáng loáng. Tiếng nổ xé rách bóng đêm biên giới…

Thế rồi nó chạy, nó chạy lạc trong rừng đá mênh mông, rừng đá tai mèo lởm chởm vô tận, nó chạy đi trốn người, nó gọi: “Cha ơi! Cha ơi!”, và những vách đá sừng sững kia trả lời nó bằng những tiếng vang ồm oàm nghe không ra tiếng gì cả…

…Chị Mỹ vẫn đi nhanh nhưng tiếng nói của chị bỗng nghẹn tắt đi. Tôi đi sau nên mãi đến lúc chị lại cất tiếng nói tôi mới biết rằng giọng nói của chị đá ướt đầm nước mắt giàn giụa. Chị hỏi:

– Anh Ngọc có biết tên con bé ấy không?

Tôi im lặng một lát rồi trả lời:

– Tôi biết rồi, chị Mỹ ạ… Có đến mười bảy, mười tám năm rồi ấy nhỉ?

Chị nói, vẫn nghẹn ngào:

– Đó là mùa hoa thuốc phiện đầu tiên trong đời tôi. Còn bây giờ thì là mùa hoa thuốc phiện cuối cùng.

Chúng tôi lại im lặng rất lâu. Bước chân chị Mỹ vẫn thoăn thoắt trên đường đá lởm chởm. Sương đã tan hết. Hai bên đường những hoa thuốc phiện diêm dúa đủ màu nở rực trong mùa thuốc phiện cuối cùng trên mảnh đất này. Năm nay, thuốc tốt quá, có lẽ cũng tốt như mùa thuốc 18 năm về trước, ngày cô bé Mỹ bắt đầu tiếp xúc với cuộc đời và mất cha… Chị Mỹ lại kể tiếp, giọng đã bình tĩnh trở lại, nhưng không còn thanh thoát như lúc đầu, bây giờ nó đằm xuống hơn, nặng hơn…

Một bà cụ già góa bụa đem Mỹ về nuôi. Được hai năm, Mỹ vừa đúng mười ba tuổi, bà cụ gả chồng cho Mỹ. Chồng Mỹ là một cậu bé bảy tuổi, con tên chúa đất ở bên kia sườn núi. Ngày đi về nhà chồng, Mỹ khóc nhiều lắm, Mỹ khóc vì từ nay Mỹ đã mất sự cô độc giữa bốn vách núi đá kia rồi. Mỹ lại phải đi đến với người, cái loài thú dữ mà Mỹ đã biết ở chợ năm kia. Mỹ ôm lấy gấu váy bà cụ mà khóc, bà cụ đẩy Mỹ ra, rồi người ta trói Mỹ lại, khiêng đi. Ít lâu sau, bà cụ ấy cũng bị chết, trên đường từ chợ về nhà, trong mùa thuốc phiện…

Hoa thuốc phiện lại nở xanh đỏ tím vàng trên những sườn núi Mèo lởm chởm. Cánh hoa mong manh của nó có sức quyến rũ lạ lùng. Năm này qua năm khác, những người Mèo cùng khổ lại phá nương bắp của mình đi, cắm thay vào đấy những cây thuốc phiện đầy ước mơ. Đêm đêm sương muối sa trắng như tuyết, những bàn tay cằn cỗi vuốt ve từng lá thuốc như vuốt ve những ước mơ đẹp đẽ nhất. Thuốc phiện, thuốc phiện, vàng đen của người Mèo, sẽ giúp họ thoát khỏi cảnh khốn cùng. Đối với họ không còn con đường nào khác nữa. Họ thức thâu đêm biên giới dài, họ liều chết chống lại thú rừng, họ giữ nương thuốc phiện ra hoa, quả thuốc phiện xanh mọng căng tròn nhựa thơm, rồi những đêm nấu thuốc trong rừng sâu, những ngày náo nức đi chợ, và xác họ lại rải đầy những con đường núi quanh co, hiểm trở…

Bây giờ thì cô bé Mỹ đã hiểu những mơ ước của cha ngày trước. Nhưng còn thuốc phiện ấy đi đâu? Mỹ không tài nào hiểu được…

Đêm vẫn còn dày trên núi non trùng điệp. Mây bay rất thấp, đến nỗi Mỹ nghe có cả hơi ướt của nó phả lạnh vào mặt. Mỹ ngồi ở một góc nhà chồng, một căn nhà ngói có tường cao vây kín bốn bên, Mỹ nghe tiếng cối nước giã gạo ngoài vườn lâu lâu lại đổ xóa xuống rồi tiếng chày đập vào cối gạo khô khan. Mỹ ngồi dậy, Mỹ không ngủ, Mỹ đếm tiếng chày buồn tẻ. Đêm nào cũng thế, dỗ chồng ngủ xong, Mỹ lại lén ra đấy ngồi một mình, Mỹ suy nghĩ…

Bỗng con chó trước cổng gầm gừ. Một tiếng huýt sáo thoang thoảng, một bóng người từ ngoài đi vào, dừng lại một lát ở trước cửa nhà. Bố chồng Mỹ mở cửa. Bóng người ấy in lên khung cửa, rất cao lớn. Mỹ rùng mình, Mỹ nhận ra rồi: người có râu quai nón, một mắt.

Cánh cửa khép lại. Mỹ lén đến khe cửa, nhòm vào. Dưới ánh đèn le lói, bố chồng Mỹ ngồi giữa, năm sáu người xúm lại chung quanh, cả người một mắt. Từng người lần lượt móc túi áo, lấy ra những thỏi thuốc phiện, đặt lên bàn tay béo múp của bố chồng Mỹ. Bọn chúng bỗng cãi nhau những gì đấy, ầm lên một lúc, nhưng khi bố chồng Mỹ thét lớn: “Im” và đập mạnh tay xuống bàn thì tất cả im lặng. Mắt chúng xanh đi vì sợ…

Mỹ đứng sững ở ngưỡng cửa. Mỹ hiểu ra rồi: thuốc phiện, niềm mơ ước vuốt ve những đêm trắng toát sương muối của những người dân Mèo nghèo khổ, thuốc phiện đẫm máu ấy chạy về đâu, Mỹ đã hiểu ra rồi.

Trong nhà đã tắt đèn. Bọn chúng ngủ hết rồi. Mỹ vẫn đứng ở đấy, bóng đêm biên giới đầy bí mật và hăm dọa bao trùm lấy cô gái Mèo nhỏ bé. Nhưng Mỹ không thể quay vào nhà được nữa. Mỹ muốn trở về, trở về căn nhà cô độc, im lặng quanh năm trong mây dày trên đỉnh núi. Mỹ bước đi, Mỹ đã ra đến ngõ, con chó gầm gừ rồi im lặng nhận ra người quen, mây bay thấp quá thổi một luồng lạnh lên đôi vai nhỏ bé của Mỹ. Mỹ ù té chạy vào trong đêm tối mờ mịt, không biết đâu là đường. Mỹ chạy như có người, như có thú dữ đuổi theo sau. Đá tai mèo xé rách tả tơi gấu váy, những cành cây dại đầy gai rạch ngang, rạch dọc trên mắt. Mỹ chạy đi, chạy đi, không biết về đâu, không biết tới đâu. Cuộc đời không còn chỗ sống được cho cô gái Mèo mười ba tuổi ấy nữa rồi!

Mặt chị Mỹ lại đầm đìa nước mắt. Nhưng lần này chị không giấu, chị bảo tôi:

– Anh cho em mượn cái khăn tay.

Lau nước mắt rồi, chị cười:

– Đáng lẽ em chết lần đó rồi đấy, anh Ngọc ạ. Anh nghĩ, em chạy trong núi ba ngày, vừa chạy vừa khóc, đói thì có thể đào củ rừng mà ăn, khát đã có nước suối đấy, nhưng em chả thiết ăn uống gì cả. Cứ chạy như thế, hễ thoáng thấy làng, thấy người là lánh đi ngay. Cho đến buổi tối ngày thứ ba…

…Mệt lả, Mỹ dừng lại trước cửa một hang đá, Mỹ định ngồi sụp xuống đấy, ngã xuống đấy rồi chết lả đi. Nhưng vừa lúc đó, Mỹ nghe thấy trong hang có tiếng động. Mỹ đứng thẳng dậy: người! Lại gặp người rồi! Mỹ vùng chạy, nhưng đôi chân bé nhỏ không bước được nữa. Mỹ quỵ xuống ở cửa hang…

Khi tỉnh dậy, vẫn còn là đêm, Mỹ thấy mình nằm trên vai một người to lớn. Anh ta cõng Mỹ đi một mình trong núi, một tay anh đỡ lưng Mỹ, một tay anh cầm một khẩu súng dài. Mỹ vùng ra, nhưng không còn chút sức lực nào. Khi người to lớn ấy đặt Mỹ xuống đất thì Mỹ đã lại ngất đi…

Mỹ tỉnh lại lần thứ hai trong một hang đá. Vây chung quanh em, có rất đông người, toàn là những người đeo súng, họ ngồi hơ tay lên một đống lửa cháy bập bùng. Người to lớn ấy cúi xuống nói tiếng Mèo lơ lớ:

– Tỉnh rồi à, em? Ăn cháo nhé!

Mỹ nhìn vào mặt người đó. Có lẽ anh ta không phải người Mèo, khuôn mặt chữ điền xương xẩu, hai gò má bạnh ra, đôi mắt lá răm rất hiền, mũi hếch lên trông rất lạ…

Chị Mỹ quay lại hỏi tôi:

– Đố anh Ngọc, ai đấy?

Bị hỏi đột ngột, tôi bảo:

– Tôi biết thế nào được.

– Sao lại không biết, gặp mãi rồi mà.

– A… Thế ra… đồng chí Tiến Quân à?

– Còn ai nữa!

– Thế ra chị lại chạy đúng vào vùng hoạt động của đội quân đồng chí Tiến Quân lúc đó!

– May quá, không thì bây giờ em đã thành ma rồi…

Bước chân chị Mỹ lại thoăn thoắt như nhảy trên đường. Chị bỗng im lặng, không nói gì nữa. Chờ lâu quá, tôi hỏi:

– Rồi sau thế nào nữa, chị Mỹ?

Chị quay lại phía tôi, đôi mắt rất nâu, như ngạc nhiên:

– Còn sao nữa! Từ đấy em không biết sợ người nữa. Em biết quý người, em làm liên lạc cho các anh ấy.

– Khoảng năm 45 ấy nhỉ?

– Em không nhớ năm đâu, anh tính xem.

Trong khi tôi đang lẩm nhẩm tính thì bỗng chị Mỹ dừng lại:

– Đến kia rồi!

Trước mặt chúng tôi là một thung lũng sâu và hẹp như một cái giếng, dưới lòng thung lũng một xóm nhỏ như bàn tay, xúm xít hai mươi nóc nhà: chợ Miêu Cao. Tôi đứng sững lại vì cảm động. Đây rồi sao? Cái chợ con mà chị Mỹ đã theo bố đi đến lần đầu trong đời, ở đấy lần đầu chị biết con người trong xã hội ngày ấy đối với con người chỉ là thú dữ, ở đấy chị đã mất cha. Mười mấy năm qua, cô gái tội nghiệp ngày ấy nay đã trở thành chủ tịch xã Miêu Cao rộng và phức tạp, có trên tám nghìn dân này. Chị Mỹ cũng nghẹn ngào. Từ đấy cho đến khi xuống tới chợ, chúng tôi không nói với nhau câu nào nữa…

Tối hôm ấy chúng tôi nghỉ lại ở trụ sở ủy ban xã. Sẩm tối, đồng chí Lô Vàng, phó chủ tịch xã, một đồng chí bộ đội phục viên còn trẻ lắm, vai đeo súng, đầu đội mũ nồi tím than, đến tìm chị Mỹ:

– A, đồng chí Mỹ đã về rồi! Chờ nóng ruột lắm đấy nhé. Này, đồng chí Mỹ nè, chốc nữa tập trung nhân dân ở đây đấy, tiết mục thứ nhất đả thông một lần nữa về việc bỏ trồng thuốc phiện ấy mà, tiết mục thứ hai là bàn kế hoạch trông thay ngô và thầu dầu chứ.

Chị Mỹ hỏi tôi:

– Anh góp ý kiến cho em với, vấn đề thuốc phiện học nhiều lần rồi, nhân dân căn bản cũng đồng ý cả rồi, bây giờ nói thế nào nữa?

Tôi bảo:

– Chị cứ kể chuyện ngày hôm nay chị kể cho tôi nghe ấy, kết quả nhất đấy…

Đêm đó chị Mỹ lại kể cuộc đời của chị. Tôi ngồi trong một góc tối, nhìn những khuôn mặt người Mèo chăm chú nghe chị nói, rồi tôi nhìn chị. Chị vừa nói vừa chỉ từng gốc cây mà chị đã đứng ngày ấy, cách đây đã mười tám năm, từng góc chợ chỗ ấy bố chị đã ngồi uống rượu trong ngày cuối cùng của đời ông… Đồng chí phó chủ tịch bộ đội phục viên ngồi cạnh tôi dịch cho tôi nghe những câu nói của chị. Đồng chí ấy thúc vào đùi tôi bảo nhỏ:

– Gớm bà ấy nói lang bang thật, lại nói cả sang vấn đề lập nhóm giữ trẻ nữa kìa… Lại chuyển sang vấn đề hợp tác hóa rồi, giỏi thật!

– Đồng chí dịch cho tôi nghe đi!

– Này nhé, bà ấy nói thế này: ngày xưa người đối với người coi nhau như thú dữ, bây giờ có Đảng, có chính phủ, có Cụ Hồ, người với người mới tin nhau, giúp nhau như thể là anh em một nhà vậy. Đó là chủ nghĩa xã hội đấy, bà con ạ…

== Hết ==


Dốc Thẩm mã, đường lên Đồng Văn

========

"... Tô Hoài từng đi một chuyến công tác với Nguyên Ngọc lên Tây Bắc. Ông nhận xét, Nguyên Ngọc về tình cảm thì mềm, chỉ lý luận và cách ứng xử thì cứng. Nguyên Ngọc là đối tượng hấp dẫn của một cô gái Mèo xinh đẹp tên là Vàng Thị Mỹ ở Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang. Cô làm phiên dịch cho bộ đội. Tô Hoài nói, ba mươi năm gặp lại Vàng Thị Mỹ, thấy vẫn đẹp. Cô ghi vào cuốn sổ tay của mình: “Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng ơi! (Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng là tên một tác phẩm của Nguyên Ngọc). Chắc nhớ và yêu Nguyên Ngọc lắm mới viết như thế. Và Nguyên Ngọc chắc cũng yêu cô. Vì anh tả Thào Mỵ đẹp tuyệt vời, đẹp như tiên “Khi im lặng trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc, khi lẳng lơ như những bông hoa thuốc phiện quyến rũ, khi phấp phới như ngọn gió ào ạt trên đỉnh Săm Pun…”  Văn như thế thì cũng đa tình đáo để." (trích Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

 "Lần ấy, Thào Mỷ nhắn mời bác Nguyễn Tuân và tôi sang Mèo Vạc. Nhưng chúng tôi không sang được. Mấy năm sau, tôi lên Mèo Vạc, đi với Nguyễn Văn Bổng. Lần đầu tiên, Nguyễn Văn Bổng đặt chân đến Hà Giang. Những năm vừa qua, Nguyễn Văn Bổng đi chiến trường miền Nam, vào hoạt động bí mật trong Sài Gòn. ở Sài Gòn trở ra Bắc đi hộ chiếu giả theo đường bay Nôm Pênh - Quảng Châu - Hà Nội của hãng hàng không Pháp. Lưu lạc đã lắm đường đất thế, nhưng đến Mèo Vạc lại là chuyến xa nhất của anh lên biên giới phía bắc. Thào Mỷ cũng nghỉ hưu đã lâu. Đầu năm 1991 hơn ba mươi năm đã qua. Nguyên Ngọc trở lại cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc. Nguyên Ngọc kể cho tôi biết Thào Mỷ bây giờ mở ngôi hàng nước ở chợ Mèo Vạc. Ôi, thế mà còn nhớ nhau, còn có lời thăm hỏi một thời sôi nổi và sóng gió. Thào Mỷ bị ép lấy chồng từ thuở bé theo phong tục. Khi lớn, Thào Mỷ bỏ về nhà mình - một việc mà chưa người đàn bà Mèo nào dám làm. Trong chiến dịch tiễu phỉ 1954, Thào Mỷ đi dịch tiếng địa phương giúp bộ đội. Gặp Nguyên Ngọc lần ấy trên mặt trận. Cũng chưa có dịp nào hỏi xem cái truyện ngắn Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng của Nguyên Ngọc có dây mơ rễ má với Thào Mỷ thế nào mà trong sổ tay công tác của Thào Mỷ, giữa một trang giấy thấy ghi một câu gọi thật lạ lùng: Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng ơi. Thào Mỷ hỏi thăm tôi về Nguyên Ngọc, về nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Chắc là Thào Mỷ thầm yêu cả hai người một đam mê khác đời của Thào Mỷ, người cầm bút, người cầm đàn ấy đã gặp Thào Mỷ trong trận tiễu phỉ trên núi. Tôi bảo Thào Mỷ ạ, Nguyên Ngọc đương ở chiến trường miền Nam. Thì đôi mắt xanh nâu của người con gái đẹp im lặng..

 Rồi Thào Mỷ trở thành cán bộ huyện Mèo Vạc - một phụ nữ dân tộc Mông tiên tiến. Thào Mỷ cũng như cô Mỹ nhân viên cửa hàng bách hoá ở Lũng Phin và con gái nuôi Ly Chờ của tôi. Chao ôi, con đường tình của người ta thì mấy ai biết được rồi ra hướng nào. Như quả báo và ám ảnh truyền kiếp, xưa kia Thào Mỷ ruồng rẫy thằng chồng ranh con, bây giờ Thào Mỷ chỉ đeo đuổi những người trai trẻ ít tuổi. Cái anh chàng mà cô lăn lóc sau cùng là một cảnh vệ ở huyện đội, người Tày quê Chợ Rã bên hồ Ba Bể Bắc Cạn. Chú cảnh vệ lệch với cô đến mười tuổi. Trong khi ấy Thào Mỷ từ chối người ta làm mối cho một cán bộ Kinh mà cả tuổi trẻ đã để vùi vào công tác rừng núi trên này. Nhưng ở thời ấy, một huyện uỷ viên đương phơi phới hứa hẹn như Thào Mỷ, làm sao đoàn thể lại có thể bằng lòng cho cô đẹp duyên với chú cảnh vệ trống choai kia.

Cái ngày tôi lên Mèo Vạc lần đầu, mọi chuyện về Thào Mỷ đương còn bời bời như vừa xẩy ra. Thào Mỷ tháo vát nhanh nhẹn, được làng xóm tin cậy. Thào Mỷ đưa tôi lên những núi trong huyện. Có lần về Nhá Sủa, làng quê Thào Mỷ. Tôi hỏi nửa thật nửa đùa: cho tôi nhìn cái mặt thằng chồng trẻ con ngày trước. Thào Mỷ nói: Nhìn nó làm gì, nó có trẻ con nữa đâu. Nó đã có vợ mà mình thì chưa được chồng. Rồi Thào Mỷ cúi mặt, dường như thở dài. Sớm mai, trên đường đầu xóm, một người vác cây vầu trong rừng ra. Người ấy đã đi khuất sang núi bên kia. Thào Mỷ nói: Nó đấy. Nó đấy cũng như mọi người tron làng, tôi làm sao biết được. Tôi vẫn thấy trong tưởng tượng cái thằng lỏi con cởi trần, đánh quay chơi trước nhà rồi bị vợ bỏ, ngoe ngoảy khóc thút thít. Kể cả ngày Nguyễn Văn Bổng và tôi lên Mèo Vạc lần ấy, nhiều năm đã qua rồi. Thào Mỷ đã làm phó chủ tịch huyện, phụ trách văn xã. Không ngờ rồi gầy yếu đến thế. Có lẽ vốn người nhỏ nhắn, lại xưa kia khi chê chồng đã ăn lá ngón tự vẫn nhiều lần nhưng được giải độc, không chết. Thào Mỷ đã có chồng. Tôi được tin mừng ấy từ lâu. Lại biết được người chồng ít tuổi hơn Thào Mỷ. Thoả lòng nhé. Nhưng nay mới tường mặt. Anh ấy người dân tộc Lô Lô, công nhân lâm trường, chưa biết chữ. Hôm đầu đến, không gặp. Anh lên quê trên Lũng Cú đã mấy hôm. Tôi hỏi: Hôm nào nó về? Thào Mỷ sa nước mắt. Tôi không hỏi nữa.

Đêm ấy, chúng tôi uống rượu ngô bằng những cái bát mắt vầu. Nhắm với thịt dê nước suýt thắng cố. Chảo thắng cố bắc giữa gian phòng ban văn xã của huyện. Cái đầu dê nổi lềnh bềnh, nước sôi lăn tăn xung quanh. Thào Mỷ uống rượu từng bát. Rồi khóc. Lại khóc. Khổ lắm. Nó đánh em. Đánh luôn, vừa đánh vừa chửi: tao đánh con mèo già, tao đánh phó chủ tịch huyện. Uỷ ban gọi nó lên. Nó xin chừa, nhưng rượu vào rồi, nó vẫn chửi thế, đánh thế. Biết làm thế nào bây giờ?

Biết làm thế nào? Hôm trở về, Nguyễn Văn Bổng bảo tôi:

- Heo hút, ảm đạm quá. Mình đến đây lần đầu, mà chắc cũng là lần cuối cùng thôi.

( trích Cát bụi chân ai - Tô Hoài)


Hoa Tam giác mạch trên cao nguyên đá Đồng Văn