Trích trong tập Giăng lưới bắt chim của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Bảo Sinh, sinh năm
1940, sống trong một gia đình đã định cư nhiều đời ở Hà Nội. Thời trẻ, ông từng
đi lính, từng là võ sư Judo. Từ trẻ đến già, Nguyễn Bảo Sinh chỉ ở số 30, ngõ
167 Trương Định (ngõ Bảo Sinh). Gần như suốt đời không hề chuyển dịch đi đâu,
luôn ở cùng gia đình, xung quanh có vợ con, anh em, họ hàng, bè bạn nhưng ông
luôn tự nhận mình là một tay sống trong giang hồ(!), một người tu tại gia(!).
Nguyễn Bảo Sinh từng có hỗn danh là Sinh chó. Việc này duyên do từ chuyện có thật:
Hồi bé, vốn tính ngỗ ngược,
thân phụ ông là cụ Nguyễn Hữu Mão (năm nay 95 tuổi, cũng là người rất hay thơ)
có lần tức giận bảo rằng:
- Lớn lên thì chó nuôi mày!
Một lời là một vận vào! Lời
nguyền của người cha tự nhiên vận vào số phận đứa con. Từ nhiều năm nay Nguyễn
Bảo Sinh vẫn sống bằng nghề nuôi chó mèo cảnh, nuôi gà chọi, cũng có khi làm hậu
cần cho các xới chọi gà khắp một vùng nội ngoại thành Hà Nội.
Làm thơ, nuôi chó, chọi gà
Ba trò chơi ấy làm ta bơ phờ
Suốt ngày nửa tỉnh, nửa mơ
Trông ai cũng thấy nửa thơ nửa gà!
Nguyễn Bảo Sinh khá điển
hình cho một dạng nhà thơ dân gian vốn tồn tại từ xưa đến nay ở nhiều nơi trên
thế giới. Trí tuệ dân gian thông qua hình thức nói vần được truyền khẩu nhiều
khi biến thành ca dao, tục ngữ, thành lời các bài hát dân ca. Có thể nhận ra đặc
tính chính của lối thơ này là ở chỗ luôn ngẫm sự đời để từ đó rút ra những kinh
nghiệm sinh tồn, những kinh nghiệm sống. Việc ngẫm sự đời ấy dựa trên những
quan sát trực tiếp ở những ngành nghề, ở những hoàn cảnh nhiều khi rất lạ lùng,
hiếm có. Nhà thơ dân gian là người trực tiếp ở trong cuộc, trực tiếp lội xuống
bùn để bắt những con cá chân lý trong cuộc sống. Yếu tố kinh nghiệm cá nhân
không thể chia sẻ cho ai được đã làm nên nhiều sự bất ngờ và độc đáo của lối
thơ này.
Khi yêu cái xích dưới chân
Thì xiềng xích ấy là thần Tự do!
***
Tự trói thì gọi là tu
Bị trói thì gọi là tù mọt gông!
***
Mê là mê theo cách mê của người
Ngộ là mê theo cách mê của mình.
***
Tự do sướng nhất trên đời
Tự lừa lại sướng hơn mười tự do!
***
Khi mê bùn chỉ là bùn
Ngộ ra mới biết trong bùn có sen
Khi mê tiền chỉ là tiền
Ngộ ra mới biết trong tiền có tâm
Khi mê dâm chỉ là dâm
Ngộ ra mới biết trong dâm có tình
Khi mê tình chỉ là tình
Ngộ ra mới biết trong tình có dâm!
Lối nghĩ dân gian nôm na
(nôm na là cha mách qué) dựa trên những nghịch lý oái oăm trong cuộc sống. Phát
hiện ra những nghịch lý ấy, hiểu được nó khiến người ta nhiều khi lâm vào tình
trạng dở khóc dở cười:
Con ta không phải của ta
Tai họa của nó mới là của ta
Của chìm của nổi trong nhà
Của ta rồi sẽ lại là của con
***
Vợ là thánh chỉ vua ban
Có sao dùng vậy không bàn đúng sai!
Làm thơ anh chỉ nghiệp dư
Hội thơ chuyên nghiệp họ chưa cho vào
Yêu em anh cũng nghiệp dư
Hội yêu chuyên nghiệp họ chưa cho vào!
Trong thơ của Nguyễn Bảo
Sinh có yếu tố Phật giáo (mới chỉ là yếu tố Phật giáo chứ chưa phải là tư tưởng
Phật giáo). Yếu tố thiền đôi lúc đã xóa đi những ranh giới thị phi trong cuộc đời
gây nên những hiệu quả bất ngờ khá độc đáo:
Cùng chung một chuyến đò ngang
Kẻ thì sang bến người đang trở về
Lái đò lái mãi thành mê
Sang về chẳng biết mình về hay sang?
Không phải tự nhiên mà
Nguyễn Bảo Sinh đặt tên cho những bài thơ truyền khẩu của mình là Huyền Thi. Điều
ấy có phần nào đúng. Vì sao vậy? Vì tôi nghĩ thơ của Nguyễn Bảo Sinh chưa phải
thơ thiền. Nếu là thiền thực thì trong nội dung thơ đương nhiên sẽ hết ý nghĩa
sâu sắc hoặc không sâu sắc (sâu sắc cũng vô nghĩa lý mà không sâu sắc cũng vô
nghĩa lý). Thơ của Nguyễn Bảo Sinh mới chỉ mang yếu tố thiền, đang tiến tới thiền.
Đấy là thiền giả chứ chưa thiền thật. Sự thú vị của Nguyễn Bảo Sinh là ở đấy. Đấy
cũng là nét đặc biệt của văn học dân gian, nghệ thuật dân gian. Tính không
chuyên nghiệp nửa đời nửa đoạn của văn học dân gian, nghệ thuật dân gian gắn liền
với đời sống và số phận nửa giăng nửa đèn của chính những người sáng tạo ra nó.
Sự ỡm ờ, nhập nhằng giữa chân lý và phi lý, thực và ảo, thị và phi, hay và dở cứ
lẫn vào nhau, huyễn vào nhau. Trên thực tế, đã có nhiều người coi thường, coi
khinh thơ của Nguyễn Bảo Sinh là không ra gì, vớ vẩn, nửa đời nửa đạo, nửa nạc
nửa mỡ. ở những bạn đọc tuân theo nguyên tắc bất nhị thì sự phản ứng của họ
cũng rất dễ hiểu. Họ không biết rằng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian hình
thành ở chính sự nhập nhằng vớ vẩn đó. Tỉ như ở trò kéo co: mấy người nắm lấy sợi
dây chia ra hai phe, buông dây cười xòa sẽ là trò đùa nhưng trong trường hợp
hoàn cảnh nào đấy sẽ là được thua, sẽ là sinh tử, là tranh chấp đầu rơi máu chảy.
Trò chơi dân gian, nghệ thuật dân gian ai cũng chơi được, xú xí, xí xóa cũng được
nhưng cũng có thể nghiêm trọng hóa nó cũng được. Truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn
là văn học dân gian, nghệ thuật dân gian. Khi có một bàn tay chuyên nghiệp dúng
vào, thôi xao cho nó thì nó sẽ có một ý nghĩa khác đi nhiều.
Khi đọc Nguyễn Bảo Sinh,
bạn đọc dễ có liên tưởng đến thơ Bút Tre. Tôi nghĩ, xét cho cùng, Bút Tre cũng
là một kiểu thơ dân gian, nghệ thuật dân gian. ở thơ Bút Tre, kiểu nửa đùa nửa
thật trộn lẫn giữa hình thức và nội dung gây nên hiệu quả rất độc đáo:
Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta đánh trận Điện Biên lẫy lừng;
Anh đi công tác Plây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra;
Con thuyền dịch đít sang ngang
Trông ra thấy một cái làng xa xa.
Ở Nguyễn Bảo Sinh, không
có kiểu nửa đùa nửa thật ấy mà ở đây tính chất nửa đời nửa đạo, nửa đúng nửa
sai (của đời sống và chân lý đời sống) có phần nào rõ ràng hơn. Thơ Nguyễn Bảo
Sinh không đùa tếu như thơ Bút Tre. Thơ Nguyễn Bảo Sinh có vẻ nghiêm túc tìm
chân lý hơn. Chính vì vậy nếu xét về phong độ (thơ) tôi nghĩ ở Bút Tre lớn hơn,
phá đám hơn, ngầu hơn. Đọc thơ Bút Tre người ta cười to hơn. Đọc Nguyễn Bảo
Sinh người ta cười nhỏ đi, đôi khi không cười mà chỉ à một tiếng: à ra thế, à
là thế... Không phải tự dưng đã có trường phái thơ Bút Tre: sự châm biếm, tiếng
cười là thứ rất dễ lây. Chính sự huyền thi (bãi miễn thơ) đã làm hại Nguyễn Bảo
Sinh nhưng có lẽ chính sự hại ấy cũng không quan trọng gì đối với ông. Tôi nghĩ
ông không phải là người cố ý làm thơ, càng không phải là người cố ý làm thơ để
phổ biến hay truyền bá. Ông làm thơ như một cách ghi nhật ký, ghi lại những ý
nghĩ bất chợt mỗi khi ông ngẫm ra một điều gì đấy trên cơ sở quan sát hiện thực
và mỗi khi ông rút ra được kinh nghiệm gì đấy từ cuộc đời ông.
Tôi khá bất ngờ và lý thú thấy Nguyễn Bảo
Sinh ở tuổi U.67 vẫn có những bài thơ bay bướm kiểu:
Yêu là nhớ ít tưởng nhiều
Yêu là chẳng biết mình yêu cái gì
Yêu nhau đâu bởi hàng mi
Đắm say đâu phải chỉ vì đôi môi
Yêu là yêu, có thế thôi...
Tình yêu ấy, tôi nghĩ chính là tình yêu cuộc sống. Ông làm thơ cũng
chính vì ông yêu cuộc sống.
Tôi chắc ở nhiều nơi trên
đất nước ta cũng có nhiều thi sĩ dân gian kiểu như Nguyễn Bảo Sinh. Họ yêu cuộc
sống và họ làm thơ theo kiểu của họ. Rất tiếc tôi chưa có được nhân duyên gặp gỡ
và đọc thơ họ. Nhưng cũng chẳng sao vì thực ra điều ấy với họ, với tôi cũng chẳng
có gì quan trọng. Nhiều khi gặp gỡ lại là hệ lụy, thậm chí chắc chắn sẽ là hệ lụy,
đúng như Nguyễn Bảo Sinh từng viết:
Yêu sao giây phút hình như
Cho nhau những cái còn chưa của mình
Buồn sao hình chạm với hình
Đôi bong bóng đụng hồn mình chợt tan.
Tôi viết bài này vì tình
cảm quý mến của tôi với Nguyễn Bảo Sinh, vì nhân duyên gặp gỡ của tôi với ông
thoắt cái thế mà đã 15 năm trời hết một đời Kiều lưu lạc, khi ấy tóc tôi còn
xanh, chưa có một sợi bạc nào.
29/4/2003
 |
| Nguyễn Bảo Sinh (trái) và Nguyễn Huy Thiệp |
MỘT SỐ CÂU THƠ CỦA NGUYỄN BẢO SINH:
Đi thăm đất nước Trung Hoa
So ra gái đẹp thua xa quê mình
Còn như miếu mạo cung đình
Không xem cũng biết rằng mình kém xa
***
Lên trời tưởng được hết vua
Đến nơi lại thấy bố vua đang ngồi
Vội vàng tụt xuống cõi người
Dưới trần thiên tử vẫn ngồi làm vua
***
Rượu chè cờ bạc gái trai
Là thuốc trường thọ ông trời cho ta
Chính trị là thứ tránh xa
Bàn nhiều đoản thọ hoặc là đánh nhau
***
Gọi là trẻ hay là già
Thì ta vỗ ngực vẫn là đàn ông
Khác xa các vị công công
Gia tài chỉ có một dòng nước trong
***
Vợ là cửa cái
Bạn gái là cửa sổ
Càng nhiều cửa sổ càng sang
Cửa cái anh vẫn đàng hoàng vào ra
Vợ là cửa cái nhà ta
Lại là cửa sổ thằng cha láng giềng
***
Vợ là cơm nguội nhà ta
Lại là phở tái thằng cha láng giềng...
***
Ái tình nếu uống đủ liều
Loài người sẽ thoát được điều tà dâm
***
Phải vào mới thấy lối ra
Phải yêu mới biết đâu là không yêu
Tìm ai suốt cả bốn chiều
Rồi ra mới biết bốn chiều đều không
***
Những kẻ sĩ trường văn trận bút
Làm nô văn mong chút hư vinh
Đã vào cỗ máy công danh
Không thành ra bã cũng thành ra khuôn
***
Trốn chợ lên đỉnh núi tu
Họ bê cả núi hoang vu về phường
Tiếng chuông vào phố lạc đường
Sư già khất thực luôn mồm thanh-kiu
***
Đường vào đạo lớn vô hình
Chỉ dành cho kẻ vô tình bước qua
Cố tình trồng hoa hoa không nở
Vô tình cắm liễu liễu lên xanh
***
Tìm tiền ở chỗ người đông
Tìm người ở chỗ mênh mông đất trời
Tìm tiên ở chỗ ăn chơi
Tìm đạo ở chỗ cõi người cực đau
***
Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Có đôi trai gái ngồi hơ quần đùi
Có chàng thi sĩ dở hơi
Sông Cầu không ngắm, ngắm đùi cô em
***
Bọ ngựa rình bắt ve sầu
Biết đâu chim sẻ đằng sau bắt mình
Mải tìm danh lợi gái xinh
Biết đâu cái họa đang rình bắt ta
***
Đừng chê canh nhạt của tôi
Vì anh ăn mặn lâu rồi thành quen
Em đen đâu bởi em đen
Em đen là bởi cái đèn bật lên
***
Đừng thấy em bé mà chòng
Lớn lên anh sẽ phải lòng em ngay
Đừng thề mãi mãi đắm say
Mai kia em sẽ thành ngay bà già
***
Về thăm chiến địa Điện Biên
Ngậm ngùi tiếc thủa tráng niên qua rồi
Ngày xưa kéo pháo băng đồi
Nay không kéo được qua đùi chị em
***
Muốn cho trộm chẳng đến nhà
Đề vào trước cửa đây là nhà thơ
Muốn đuổi khách ra khỏi nhà
Đọc thơ được giải họ ra tức thì.
Đêm nằm nghĩ mãi không ra
Tại sao thằng ấy lại là nhà thơ.
***
Bánh mỳ phải kẹp pa tê
Đàn ông phải có máu dê trong người
***
Đi bộ gọi là chân tu
Đếm tiền lễ bái gọi là
tay tu
Ngoài ra những kẻ ngồi tù
Nhốt riêng trai gái gọi
là cu tu
***
Tự trói thì gọi là tu
Bị trói thì gọi là tù mọt gông
***
Đi chùa nên tránh lúc đông
Sợ nhiều người quá phật không thấy mình
Còn khi đi đến chợ tình
Người đông dễ chọn cho mình người yêu.