Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

07 tháng 11 2025

Ma Soeur

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

đưa em về dưới mưa
nói năng chi cũng thừa
phất phơ đời sương gió
hồn mình gần nhau chưa?

tay ta từng ngón tay
vuốt lưng em tóc dài
những trưa ngồi quán vắng
chia nhau tình phôi thai
xa nhau mà không hay

(hỡi em cười vô tội
đeo thánh giá huy hoàng
hỡi ta nhiều sám hối
tính nết vẫn hoang đàng!)

em hiền như ma-sơ
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
ma-sơ này ma-sơ
có dịu dàng ánh mắt
có êm đềm cánh môi
ru ta người bệnh hoạn
ru ta suốt cuộc đời

(cuộc đời tên vô đạo
vết thương hành liệt tim!)

đưa em về dưới mưa
xe lăn đều lên dốc
chở tình nhau mệt nhọc!

đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa

đưa em về dưới mưa
hỡi em còn nít nhỏ
chuyện tình nào không xưa?

vai em tròn dưới mưa
ướt bao nhiêu cũng vừa
cũng chưa hơn tình rụng
thấm linh hồn ma-sơ
1971

Ma Soeur: tiếng Pháp, nghĩa là nữ tu sĩ (sơ).

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Em hiền như Ma Soeur.

 Bài hát: Em Hiền Như Ma Soeur - ca sĩ Elvis Phương



Bài thơ này được thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1971, trong thời gian quen biết với Minh Thủy (từ năm 1970). Có một số bài viết cho rằng “Ma Soeur” chính là Duyên, nhưng dựa theo mốc thời gian thì không phải như vậy, vì mối tình đơn phương của nhà thơ với cô Duyên đã kết thúc trước đó đã từ lâu

Trong số những bài thơ viết cho Minh Thủy, có 2 bài được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng, đó là Hai Năm Tình Lận Đận và bài Em Hiền Như Ma Soeur. Trong đó, bài Em Hiền Như Ma Soeur gây ấn tượng mạnh với người nghe ngay từ tựa đề ca khúc.

Nếu như những bài thơ viết cho Duyên thời niên thiếu thường là lời trách móc, hờn dỗi rất trẻ con, thì vào năm 18 tuổi, khi đã chín chắn hơn, ông đã sáng tác những lời thơ rất dịu dàng để tặng cho một cô nữ sinh học chung trường khác tên là Minh Thủy, người mà sau đó cũng là vợ ông: 

Ta vẫn nhớ trưa nào em ngồi hát 

Ta thèm hôn lên mắt tiểu thư buồn 

Ta vẫn ăn năn những lúc đón đường 

Em khó chịu mà thư nào cũng nhận  

Trong số những bài thơ viết cho Minh Thủy, có 2 bài được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng, đó là Hai Năm Tình Lận Đận và bài Em Hiền Như Ma Soeur. Trong đó, bài Em Hiền Như Ma Soeur gây ấn tượng mạnh với người nghe ngay từ tựa đề ca khúc.

Dù là một người ngoại đạo nhưng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên nhiều lần nhắc đến hình tượng của Thiên Chúa Giáo, có lẽ do ảnh hưởng từ mối tình đầu tiên của ông (Duyên) là một con chiên ngoan đạo. Còn về phần cô gái mang tên Minh Thuỷ, đây chắc hẳn là một cô gái rất hiền lành, dịu dàng, đoan trang nên mới được nhà thơ ví “hiền như Ma soeur”, nghĩa là giống như những nữ tu.




06 tháng 11 2025

Duyên của tình ta con gái Bắc

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

ta sẽ về thương lại nhánh sông xưa

thương lại bóng hình người năm năm trước...

em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền

nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang

nhớ duyên dáng, ngây thơ... mà xảo quyệt!

 


ta sẽ nhớ dặn dò lòng nên tha thiết

nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

nên yêu đương bằng khuôn mặt khờ khờ

nên hùng hổ... để đợi giờ thua thiệt!

 

nghe nói em vừa thi rớt Luật

môi trâm anh tàn héo nụ-xa-vời

mắt công nương thầm khép mộng chân trời

xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng!

(dù thật sự cũng đáng đời em lắm

rớt đi Duyên, rớt để thương người!)

 

ta - thằng ôm hận tú tài đôi

không biết tìm ai mà kể lể

chim lớn thôi đành cam rớt lệ

ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh!

 

nếu vì em mà ta phải điên tình

cơn giận dữ đã tận cùng mê muội

thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài yếu đuối

tay tre khô mối mọt ăn luồn

dễ gãy dòn miểng vụn tả tơi xương

khi tàn bạo siết cổ người yêu dấu!

 

em chẳng bao giờ rung động cũ

ta năm năm nghiệt ngã với tình đầu

nên trở về như một con sâu

lê chân mỏng qua những tàn cây rậm

nuôi hy vọng sau ngàn mưa nắng lậm

lá-xanh-em chưa dấu lở loang nào

để ta còn thi sĩ nhất loài sâu

nhìn lá nõn, tiếc, thèm... đâu dám cắn!


nếu vì em mà thiên tài chán sống

thì cũng vì em ta ngại bước xa đời!

1972

Ngọc Sang ngâm thơ

04 tháng 11 2025

Gửi Lai Châu

Tác giả: Trần Mạnh Hảo

Trái tim đập không một ai nhìn thấy,

Ở ven trời Tây Bắc có Lai Châu.

Hoa ban nở thành người con gái Thái,

Đám mây bay trong thau nước gội đầu.

 


Nơi sông Đà vặn mình rung núi

"Lối Ma Ly Pho là sợi chỉ xuyên qua xống váy mèo"

Thị xã nhỏ như chiếc áo cài trên ngực đất nước

Núi hai đầu mây đến đá lông nheo

 

Nơi con thác giữ nụ cười em lại

Tiếng Thái thương như cầm được giữa tay mình

Tóc em đó như mùa màng gặt hái

Mỗi cái nhìn ẩn chứa một bình minh.

 

Nơi ngủ dậy núi đã đầy trong mắt

Trong chiêm bao còn vọng tiếng nai chiều

Tiếng ngựa thồ gõ vào mây rậm rịch

Em gội đầu để suối suốt đời reo.

 

Nơi em về bản Chi Luông, bản Xá

Hoa rừng thơm như có kẻ theo cùng

Bản mới dựng mắt em là chiếc lá

Rơi bập bùng chân cứ muốn đi chung.

 

Nơi vách đá còn ghi bia Lê Lợi

Lịch sử ngược sông Đà, nước réo tiếng gươm xưa

Em đứng đó mỉm cười khi anh hỏi

Như hoa ban chỉ nở lúc sang mùa.

 

Nơi dấu tích còn ghi thời thống khổ

Cô gái xòe xưa lao mình xuống sông Đà

Chỗ em khóc sân vua Đèo giờ biếc cỏ

Anh đi tìm nước mắt gặp lời ca.

 

Anh đã gặp những con người như lửa

Giấu khói lửa đi như thời bếp Hoàng Cầm

Điện Biên của mọi người dành riêng em điệu múa

Những đời thường nhập lai hoá nhân dân.

 

Lai Châu của lúa thơm sắn ngọt

Của tình em cho thị xã trăng rằm

Của ngọn gió kéo mặt trời qua dốc

Tiếng khèn Mèo làm suối cứ băn khuăn.

 

Anh xin mang tiếng sông Đà về với biển

Để lòng em tìm lại buổi ban đầu

Em đứng đó mây ven trời vô kể

Để suốt đời anh mắc nợ Lai Châu...

(1981)


Trong một bài báo viết về vẻ đẹp Lai Châu, Tây Bắc, nhà báo Kiều Trinh của báo “Điện Biên” đã viết : Cách đây 35 năm, trong chuyến thực tế Lai Châu, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết bài thơ “Gửi Lai Châu” (1981), trong đó có câu: “Hoa Ban nở thành người con gái Thái”. Với bạn đọc Lai Châu - Điện Biên, đó là một trong những câu thơ hay nhất viết về hoa Ban, là sự ví von kiều diễm nhất về người con gái dân tộc Thái.

Trần Mạnh Hảo kể lại: Năm 1981 nhà văn Mạc Phi tác giả tiểu thuyết nổi tiếng “Rừng động”, chủ tịch Hội văn nghệ Lai Châu, có vợ người Thái, trong một bữa tiệc với nhạc sĩ Văn Cao, đã rủ Trần Mạnh Hảo lên Lai Châu Tây Bắc chơi. Theo xe riêng của anh Mạc Phi, tôi đã lên Lai Châu Tây Bắc. Dân tộc Thái và hoa ban tuyệt đẹp đã quyến rũ tôi, khiến tôi ở Tây Bắc suốt ba tháng trời.

Câu thơ “HOA BAN NỞ THÀNH NGƯỜI CON GÁI THÁI” đã được anh chị em người Thái coi như quốc bảo, khiến lần tôi trở lại Lai Châu suýt chết chìm trong rượu Thái và suýt chết đuối trong đôi mắt diễm lệ hoa ban.

Đường lên Mường Tè

Phong cảnh ở Sìn Hồ 

Đèo Hoàng Liên phía Lai châu


31 tháng 10 2025

Lùi một bước biển rộng trời cao (Vọng viễn năng tri phong lãng tiểu; Lăng không thủy giác hải ba bình)

Câu "望远能知风浪小,凌空始觉海波平" là một câu thơ mang tính triết lý sâu sắc, thường được dùng để khuyên răn hoặc thể hiện một góc nhìn về cuộc sống.


Ý nghĩa chính của nó có thể được hiểu như sau:

1. Nghĩa đen:

- 望远能知风浪小 (Vọng viễn năng tri phong lãng tiểu): Khi đứng từ xa mà nhìn ra biển, ta mới thấy những cơn sóng to gió lớn thực ra cũng chỉ nhỏ bé.

- 凌空始觉海波平 (Lăng không thủy giác hải ba bình): Chỉ khi bay lên cao, vượt lên trên mọi thứ, ta mới nhận ra mặt biển thực ra rất bằng phẳng, yên ả.

2. Nghĩa bóng (Bài học triết lý):

Đây là thông điệp quan trọng nhất của câu thơ. Nó khuyên con người ta:

- Hãy biết nhìn xa trông rộng, đứng trên cao để quan sát sự việc. Khi bạn bị cuốn vào một vấn đề khó khăn, một mối bất hòa hay một cảm xúc tiêu cực (như giận dữ, thất vọng), bạn sẽ dễ bị chúng "vùi dập" và cảm thấy chúng thật to lớn, khó lòng vượt qua.

- Giữ một tầm nhìn rộng và tư thế cao. Nếu bạn biết "lùi lại một bước", "đứng cao hơn" để nhìn nhận sự việc một cách tổng thể và khách quan, bạn sẽ nhận ra rằng những vấn đề tưởng chừng như rất lớn đó thực chất chỉ là nhỏ bé, và mọi thứ rồi sẽ "lắng xuống" và "bình yên" trở lại.

- Sự bình tĩnh và sáng suốt đến từ góc nhìn rộng. Câu thơ nhấn mạnh rằng sự bình tâm và giải pháp cho mọi vấn đề không nằm ở trong "cơn sóng gió", mà ở việc bạn có đủ bản lĩnh và trí tuệ để vượt lên trên nó hay không.

Tóm lại, câu thơ này là một lời khuyên sâu sắc:

Khi đối mặt với nghịch cảnh, sóng gió trong cuộc sống, đừng vội hoảng sợ hay tuyệt vọng. Hãy cố gắng giữ cho mình một cái đầu lạnh, một tầm nhìn xa và một tư thế cao. Khi đó, bạn sẽ thấy mọi chuyện không đáng sợ như bạn tưởng và tìm ra được lối đi đến sự bình yên.

Nó cũng tương tự như câu thành ngữ Việt Nam: "Lùi một bước, biển rộng trời cao" hoặc quan niệm "giữ tâm bình an trước mọi biến cố".



30 tháng 10 2025

Hai năm tình lận đận

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

1.
hai năm tình lận đận
hai đứa cùng xanh xao
mùa đông, hai đứa lạnh
cùng thở dài như nhau

hai năm tình lận đận
hai đứa cùng hư hao

(em không còn thắt bím
nuôi dưỡng thời ngây thơ
anh không còn lính quýnh
giữa sân trường trao thư)

hai năm tình lận đận
hai đứa đành xa nhau
em vẫn còn mắt liếc
anh vẫn còn nôn nao
ngoài đường em bước chậm
trong quán chiều anh ngóng cổ cao



2.
em bây giờ có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ có lẽ
xin làm người tình thua
chuông nhà thờ đổ mệt
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
rơi xuống trần gian mưa

(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông... dại khờ)

anh bây giờ có lẽ
thiết tha hơn tín đồ
nguyện làm cây thánh giá
trên chót đỉnh nhà thờ
cô đơn nhìn bụi bậm
làm phân bón rêu xanh

(dù sao cây thánh giá
cũng được người nhân danh)

3.
hai năm tình lận đận
em đã già hơn xưa!


(Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên).

Ca khúc: Hai năm tình lận đận

Nguyễn Tất Nhiên (1952 - 1992) tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh tại tỉnh Biên Hoà. Lúc còn trẻ ông còn có biệt danh là Hải ngáo hay Hải khùng do bạn bè đặt do tâm hồn luôn mơ mộng, không tập trung ngay cả khi đang học.

Theo lời nhà thơ Thái Thuỵ Vy (người cùng quê với ông), hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà ông ưa mặc cái manteau mua ở khu dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên, ông thường làm thơ in ronéo đi phát không cho nữ sinh, họ đều quăng vào thùng rác. Thời gian này, ông thành lập thi văn đoàn với bạn học là Đinh Thiên Thọ (bút danh Đinh Thiên Phương), cùng chung nhau xuất bản tập thơ Nàng thơ trong mắt năm 1966, khi mới 14 tuổi. Trong tập thơ này ông lấy bút hiệu là Hoài Thi Yên Thi. Mối tình vô vọng với cô Duyên, nỗi đam mê, niềm đau khổ làm người đã tạo nên phong cách thơ của ông.

Nên sầu khổ dịu dàng

Thơ: Nguyễn Tất Nhiên

1.

Những kỷ niệm đời xin hãy còn xanh

(Có một ngày mình bỏ trường bỏ lớp

Anh cũng đi như luật định trời dành

Em cũng đi như luật định trời dành)

 


2.

Nắng bờ sông như màu trang vở cũ

Thuở học trò em làm khổ ai chưa?

 

3.

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bàn tay xương cầm hờ hẫng văn bằng

 

4.

Em hãy đứng trước gương làm dáng

Tự khen mình đẹp quá đi em

(Lỡ mai kia mốt nọ theo chồng

Còn đôi chút luyến lưu thời con gái)

 

Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải

Nhớ cho mình dáng dấp người yêu

(Lỡ dòng đời tóc điểm muối tiêu

Còn giây phút chạnh lòng như... mới lớn)

 

Mình hãy trách đời nhau nhiều hư hỏng

Rồi giận hờn cho kỷ niệm đầu tay

Thu miên man không thấy lá vàng bay

Anh phải nói: buồn chúng ta màu trắng

 

5.

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng

Người thì không bắt bóng được bao giờ

 

6.

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng

1970

18 tháng 10 2025

Lâm Giang Tiên

Bài thơ 臨江仙 (Lâm Giang Tiên) của tác giả Dương Thận (楊慎) thời Minh.

臨江仙 

滾滾長江東逝水,

浪花淘盡英雄。

是非成敗轉頭空。

青山依舊在,

幾度夕陽紅。

 

白髮漁樵江渚上,

慣看秋月春風。

一壺濁酒喜相逢。

古今多少事,

都付笑談中。


Phiên âm:

Lâm Giang Tiên

Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ,

Lãng hoa đào tận anh hùng.

Thị phi thành bại chuyển đầu không.

Thanh sơn y cựu tại,

Kỷ độ tịch dương hồng.

 

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,

Quán khan thu nguyệt xuân phong.

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.

Cổ kim đa thiểu sự,

Đô phó tiếu đàm trung.


Dịch nghĩa:

Sông Dương Tử chảy về hướng đông, sóng cuốn trôi anh hùng. Đúng sai, thành bại đều vô ích, núi xanh còn đó, hoàng hôn đỏ thắm mãi không thôi. Người đánh cá tóc bạc, người đốn củi bên bờ sông quen ngắm trăng thu gió xuân. Một bình rượu đục mang niềm vui đoàn tụ, mọi chuyện xưa nay hóa thành chuyện cười.


Dịch thơ:

Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông

Sóng vùi dập hết anh hùng

Được, thua, thành, bại, thoắt thành không

Non xanh nguyên vẻ cũ

Mấy độ bóng tà hồng.


Bạn đầu bạc ngư tiều trên bãi

Đã quen nhìn thu nguyệt xuân phong

Một bầu rượu vui vẻ tương phùng

Xưa nay bao nhiêu việc

Phó mặc nói cười suông.

(Bản dịch của Phan Kế Bính)


Thư pháp của Phùng Tuyết Lâm

Bài thơ này, đặc biệt là hai câu kết, đã được La Quán Trung dùng làm mở đầu cho tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa, ngay lập tức đặt toàn bộ câu chuyện anh hùng hừng hực khí thế vào một viễn cảnh lịch sử đầy tính triết lý và ngậm ngùi.

Nó như một lời bình: Dù có những nhân vật lẫy lừng như Lưu Bị, Tào Tháo, Quan Vũ, Gia Cát Lượng... với những mưu đồ bá chủ, thì cuối cùng, tất cả cũng đã trở thành quá khứ, chỉ còn là câu chuyện để đời sau bình phẩm, kể lại trong những buổi trà dư tửu hậu.

07 tháng 8 2025

Người ơi người ở

Thơ: Phạm Tiến Duật

Bao nhiêu người đã hát

Bây giờ lại đến em

Bao nhiêu người hồi hộp

Bây giờ lại đến anh

Ở hai thung lũng xanh

Kề nhau thành hàng xóm

Công việc như nước cuốn

Chẳng bao giờ thăm nhau

Nắng đã tắt từ lâu

Tiếng ve như kéo mật

Dáng em ngồi trước mặt

Như cây cỏ trong vườn

Chẳng thể gặp nhau luôn

Hãy ngồi thêm lát nữa

Hai người hai cách nguồn

Khép mở hai vùng trời

Gặp biết bao nhiêu người

Quen nhau bao gương mặt

Con đường thì tít tắp

Mặt trận thì mênh mông

Chẳng nhớ nữa mùa đông

Đi qua bao hang đá

Cũng quên rồi mùa hạ

Ở bao nhiêu ngăn hầm

Công việc cùng tháng năm

Hát vui cùng chiến sĩ

Những ngày đi đánh Mỹ

Bao nhiêu người quen nhau

Anh chẳng nói sai đâu

Em là cây ngải đắng

Mọc trong triền núi vắng

Góp vị thuốc cho đời

Tiếng em hát “Người ơi…”

Người gần nhau mãi mãi

Tiếng em hát “Đò ơi…”

Sông đưa đò gần lại

Tiếng em hát “Cây ơi…”

Cây nhú thêm mầm mới

Tiếng nồng say em gọi

Náo nức tuổi trăng lên

Cái giọng thì của em

Mà lời anh đấy nhỉ?

Giữ em chẳng được nào

Hẹn nhau ngày thắng Mỹ

Lại hát tặng tiễn nhau

Như bạn bè Quan họ

Rằng: Người đi người nhớ

Rằng: “Người ơi người ở đừng về…”

 

1970 - Viết tặng nghệ sĩ Lệ Ngải




31 tháng 7 2025

Mắt của trời xanh

Thơ: Lưu Quang Vũ

Tóc của đêm dài, mắt của trời xanh

mắt của phương xa, tay của đất nâu lành

người yêu như lửa và như lụa

bản nhạc ngày xưa, con tàu xứ lạ

Nắng cuối mùa đông, hoa chớm thu...

 


Bánh xe lăn bờ biển cát bao la

con ve xanh mưa rào ướt đẫm

đôi mắt to nóng bỏng

nói chi lời tàn nhẫn để anh đau?

 

Ru em bên hồ sâu

lòng đêm rừng thăm thẳm

mặt trời - chiếc mũ vàng chói sáng

nghiêng một ngày xuống ngủ ở vai em.

 

Anh muốn làm cánh cửa để em quên

ngọn gió nhỏ trên trán em kiêu hãnh

làm cốc nước em cầm trưa nắng gắt

làm con đường quen thuộc để em qua.

 

Vì em, anh viết những bài thơ

gương mặt ấy không gì thay được cả

mặc ai bảo tình yêu giờ đã cũ

như vầng trăng như ngọn thuỷ triều...

 

Anh vẫn dựng ngôi nhà theo quy luật của tình yêu

chẳng cần những lâu đài lạnh giá

chỉ tin nơi nào có em đến ở

chỉ sống bằng hơi thở của em thôi.

Trích trong tập: Mây trắng của đời tôi (1989)



Chăn trâu đốt lửa

 Thơ: Đồng Đức Bốn

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

 

Chiều nay Hồ Tây có giông

Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm.

 

Vẫn còn thấy ở ca dao

Y nguyên hai múi bưởi đào em cho

Vẫn còn trong nắng thập thò

Tôi và em xuống con đò ban mai...



Vào Chùa

 Thơ: Đồng Đức Bốn

 I

Đang trưa ăn mày vào chùa

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Lá bùa chẳng biết làm gì

Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

 


II

Ăn mày thì phải lang thang

Quần manh áo mảnh rộn ràng khắp nơi

Chân đạp đất đầu đội trời

Ở đâu không có con người thì đi

 

III

Hồn tôi như một lá bùa

Lửng lơ treo giữa cơn mưa đặc trời

Bao giờ vật đổi sao dời

Tiểu đâu ra đứng bùa rơi mà cầm

 

IV

Bước chân tới cửa nhà chùa

Bỗng trông Hạc đứng lưng Rùa mà đau

Chuông thờ lạc lối về đâu

Nhà sư vẫn một áo nâu khiêm nhường

 

V

Vào chùa gọi Bụt bằng anh

Bỗng đâu sấm nổ tan tành trên không

Biết mình lỗi với tổ tông

Chùa thiêng chuông đổ cơn giông lại ngừng



Nhà quê

Thơ: Đồng Đức Bốn

I-

Nhà quê có cái giếng đình

Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ

Nhà quê có mấy trai tơ

Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi

 


II -

 

Nhà quê chân lấm tay bùn

Mẹ đi cấy lúa rét run thân già

Chợ làng mở dưới gốc đa

Nhà quê đem mấy con gà bán chơi

 

III -

 

Bây giờ không thấy Thị Mầu

Nhưng con mắt ấy còn lâu mới già

Mỗi lần cây cải nở hoa

Thì tôi lại nhớ người ta chưa về

Mỗi lần cỏ dại trên đê

Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng

Bây giờ em đi lấy chồng

Tôi giờ về lại bến không tìm mình

 

IV -

 

Bao nhiêu là thứ bùa mê

Cũng không bằng được nhà quê của mình

Câu thơ nấp ở sân đình

Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau

Nhuộm buồn những hạt mưa mau

Thành sao nở trắng vườn cau trước nhà

Nhuộm hương của các loài hoa

Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em



28 tháng 9 2024

Nguyễn Bảo Sinh, nhà thơ dân gian

Trích trong tập Giăng lưới bắt chim của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp


Nguyễn Bảo Sinh, sinh năm 1940, sống trong một gia đình đã định cư nhiều đời ở Hà Nội. Thời trẻ, ông từng đi lính, từng là võ sư Judo. Từ trẻ đến già, Nguyễn Bảo Sinh chỉ ở số 30, ngõ 167 Trương Định (ngõ Bảo Sinh). Gần như suốt đời không hề chuyển dịch đi đâu, luôn ở cùng gia đình, xung quanh có vợ con, anh em, họ hàng, bè bạn nhưng ông luôn tự nhận mình là một tay sống trong giang hồ(!), một người tu tại gia(!). Nguyễn Bảo Sinh từng có hỗn danh là Sinh chó. Việc này duyên do từ chuyện có thật:

Hồi bé, vốn tính ngỗ ngược, thân phụ ông là cụ Nguyễn Hữu Mão (năm nay 95 tuổi, cũng là người rất hay thơ) có lần tức giận bảo rằng:

- Lớn lên thì chó nuôi mày!

Một lời là một vận vào! Lời nguyền của người cha tự nhiên vận vào số phận đứa con. Từ nhiều năm nay Nguyễn Bảo Sinh vẫn sống bằng nghề nuôi chó mèo cảnh, nuôi gà chọi, cũng có khi làm hậu cần cho các xới chọi gà khắp một vùng nội ngoại thành Hà Nội.

Làm thơ, nuôi chó, chọi gà

Ba trò chơi ấy làm ta bơ phờ

Suốt ngày nửa tỉnh, nửa mơ

Trông ai cũng thấy nửa thơ nửa gà!

Nguyễn Bảo Sinh khá điển hình cho một dạng nhà thơ dân gian vốn tồn tại từ xưa đến nay ở nhiều nơi trên thế giới. Trí tuệ dân gian thông qua hình thức nói vần được truyền khẩu nhiều khi biến thành ca dao, tục ngữ, thành lời các bài hát dân ca. Có thể nhận ra đặc tính chính của lối thơ này là ở chỗ luôn ngẫm sự đời để từ đó rút ra những kinh nghiệm sinh tồn, những kinh nghiệm sống. Việc ngẫm sự đời ấy dựa trên những quan sát trực tiếp ở những ngành nghề, ở những hoàn cảnh nhiều khi rất lạ lùng, hiếm có. Nhà thơ dân gian là người trực tiếp ở trong cuộc, trực tiếp lội xuống bùn để bắt những con cá chân lý trong cuộc sống. Yếu tố kinh nghiệm cá nhân không thể chia sẻ cho ai được đã làm nên nhiều sự bất ngờ và độc đáo của lối thơ này.

Khi yêu cái xích dưới chân

Thì xiềng xích ấy là thần Tự do!

 ***

Tự trói thì gọi là tu

Bị trói thì gọi là tù mọt gông!

 ***

Mê là mê theo cách mê của người

Ngộ là mê theo cách mê của mình.

 ***

Tự do sướng nhất trên đời

Tự lừa lại sướng hơn mười tự do!

 ***

Khi mê bùn chỉ là bùn

Ngộ ra mới biết trong bùn có sen

Khi mê tiền chỉ là tiền

Ngộ ra mới biết trong tiền có tâm

Khi mê dâm chỉ là dâm

Ngộ ra mới biết trong dâm có tình

Khi mê tình chỉ là tình

Ngộ ra mới biết trong tình có dâm!

Lối nghĩ dân gian nôm na (nôm na là cha mách qué) dựa trên những nghịch lý oái oăm trong cuộc sống. Phát hiện ra những nghịch lý ấy, hiểu được nó khiến người ta nhiều khi lâm vào tình trạng dở khóc dở cười:

Con ta không phải của ta

Tai họa của nó mới là của ta

Của chìm của nổi trong nhà

Của ta rồi sẽ lại là của con

 ***

Vợ là thánh chỉ vua ban

Có sao dùng vậy không bàn đúng sai!

Làm thơ anh chỉ nghiệp dư

Hội thơ chuyên nghiệp họ chưa cho vào

Yêu em anh cũng nghiệp dư

Hội yêu chuyên nghiệp họ chưa cho vào!

Trong thơ của Nguyễn Bảo Sinh có yếu tố Phật giáo (mới chỉ là yếu tố Phật giáo chứ chưa phải là tư tưởng Phật giáo). Yếu tố thiền đôi lúc đã xóa đi những ranh giới thị phi trong cuộc đời gây nên những hiệu quả bất ngờ khá độc đáo:

Cùng chung một chuyến đò ngang

Kẻ thì sang bến người đang trở về

Lái đò lái mãi thành mê

Sang về chẳng biết mình về hay sang?

Không phải tự nhiên mà Nguyễn Bảo Sinh đặt tên cho những bài thơ truyền khẩu của mình là Huyền Thi. Điều ấy có phần nào đúng. Vì sao vậy? Vì tôi nghĩ thơ của Nguyễn Bảo Sinh chưa phải thơ thiền. Nếu là thiền thực thì trong nội dung thơ đương nhiên sẽ hết ý nghĩa sâu sắc hoặc không sâu sắc (sâu sắc cũng vô nghĩa lý mà không sâu sắc cũng vô nghĩa lý). Thơ của Nguyễn Bảo Sinh mới chỉ mang yếu tố thiền, đang tiến tới thiền. Đấy là thiền giả chứ chưa thiền thật. Sự thú vị của Nguyễn Bảo Sinh là ở đấy. Đấy cũng là nét đặc biệt của văn học dân gian, nghệ thuật dân gian. Tính không chuyên nghiệp nửa đời nửa đoạn của văn học dân gian, nghệ thuật dân gian gắn liền với đời sống và số phận nửa giăng nửa đèn của chính những người sáng tạo ra nó. Sự ỡm ờ, nhập nhằng giữa chân lý và phi lý, thực và ảo, thị và phi, hay và dở cứ lẫn vào nhau, huyễn vào nhau. Trên thực tế, đã có nhiều người coi thường, coi khinh thơ của Nguyễn Bảo Sinh là không ra gì, vớ vẩn, nửa đời nửa đạo, nửa nạc nửa mỡ. ở những bạn đọc tuân theo nguyên tắc bất nhị thì sự phản ứng của họ cũng rất dễ hiểu. Họ không biết rằng văn học dân gian, nghệ thuật dân gian hình thành ở chính sự nhập nhằng vớ vẩn đó. Tỉ như ở trò kéo co: mấy người nắm lấy sợi dây chia ra hai phe, buông dây cười xòa sẽ là trò đùa nhưng trong trường hợp hoàn cảnh nào đấy sẽ là được thua, sẽ là sinh tử, là tranh chấp đầu rơi máu chảy. Trò chơi dân gian, nghệ thuật dân gian ai cũng chơi được, xú xí, xí xóa cũng được nhưng cũng có thể nghiêm trọng hóa nó cũng được. Truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn là văn học dân gian, nghệ thuật dân gian. Khi có một bàn tay chuyên nghiệp dúng vào, thôi xao cho nó thì nó sẽ có một ý nghĩa khác đi nhiều.

Khi đọc Nguyễn Bảo Sinh, bạn đọc dễ có liên tưởng đến thơ Bút Tre. Tôi nghĩ, xét cho cùng, Bút Tre cũng là một kiểu thơ dân gian, nghệ thuật dân gian. ở thơ Bút Tre, kiểu nửa đùa nửa thật trộn lẫn giữa hình thức và nội dung gây nên hiệu quả rất độc đáo:

Hoan hô đại tướng Võ Nguyên

Giáp ta đánh trận Điện Biên lẫy lừng;

Anh đi công tác Plây

Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra;

Con thuyền dịch đít sang ngang

Trông ra thấy một cái làng xa xa.

Ở Nguyễn Bảo Sinh, không có kiểu nửa đùa nửa thật ấy mà ở đây tính chất nửa đời nửa đạo, nửa đúng nửa sai (của đời sống và chân lý đời sống) có phần nào rõ ràng hơn. Thơ Nguyễn Bảo Sinh không đùa tếu như thơ Bút Tre. Thơ Nguyễn Bảo Sinh có vẻ nghiêm túc tìm chân lý hơn. Chính vì vậy nếu xét về phong độ (thơ) tôi nghĩ ở Bút Tre lớn hơn, phá đám hơn, ngầu hơn. Đọc thơ Bút Tre người ta cười to hơn. Đọc Nguyễn Bảo Sinh người ta cười nhỏ đi, đôi khi không cười mà chỉ à một tiếng: à ra thế, à là thế... Không phải tự dưng đã có trường phái thơ Bút Tre: sự châm biếm, tiếng cười là thứ rất dễ lây. Chính sự huyền thi (bãi miễn thơ) đã làm hại Nguyễn Bảo Sinh nhưng có lẽ chính sự hại ấy cũng không quan trọng gì đối với ông. Tôi nghĩ ông không phải là người cố ý làm thơ, càng không phải là người cố ý làm thơ để phổ biến hay truyền bá. Ông làm thơ như một cách ghi nhật ký, ghi lại những ý nghĩ bất chợt mỗi khi ông ngẫm ra một điều gì đấy trên cơ sở quan sát hiện thực và mỗi khi ông rút ra được kinh nghiệm gì đấy từ cuộc đời ông.

Tôi khá bất ngờ và lý thú thấy Nguyễn Bảo Sinh ở tuổi U.67 vẫn có những bài thơ bay bướm kiểu:

Yêu là nhớ ít tưởng nhiều

Yêu là chẳng biết mình yêu cái gì

Yêu nhau đâu bởi hàng mi

Đắm say đâu phải chỉ vì đôi môi

Yêu là yêu, có thế thôi...

Tình yêu ấy, tôi nghĩ chính là tình yêu cuộc sống. Ông làm thơ cũng chính vì ông yêu cuộc sống.

Tôi chắc ở nhiều nơi trên đất nước ta cũng có nhiều thi sĩ dân gian kiểu như Nguyễn Bảo Sinh. Họ yêu cuộc sống và họ làm thơ theo kiểu của họ. Rất tiếc tôi chưa có được nhân duyên gặp gỡ và đọc thơ họ. Nhưng cũng chẳng sao vì thực ra điều ấy với họ, với tôi cũng chẳng có gì quan trọng. Nhiều khi gặp gỡ lại là hệ lụy, thậm chí chắc chắn sẽ là hệ lụy, đúng như Nguyễn Bảo Sinh từng viết:

Yêu sao giây phút hình như

Cho nhau những cái còn chưa của mình

Buồn sao hình chạm với hình

Đôi bong bóng đụng hồn mình chợt tan.

Tôi viết bài này vì tình cảm quý mến của tôi với Nguyễn Bảo Sinh, vì nhân duyên gặp gỡ của tôi với ông thoắt cái thế mà đã 15 năm trời hết một đời Kiều lưu lạc, khi ấy tóc tôi còn xanh, chưa có một sợi bạc nào.

 29/4/2003

Nguyễn Bảo Sinh (trái) và Nguyễn Huy Thiệp

MỘT SỐ CÂU THƠ CỦA NGUYỄN BẢO SINH:

Đi thăm đất nước Trung Hoa

So ra gái đẹp thua xa quê mình

Còn như miếu mạo cung đình

Không xem cũng biết rằng mình kém xa

***

Lên trời tưởng được hết vua

Đến nơi lại thấy bố vua đang ngồi

Vội vàng tụt xuống cõi người

Dưới trần thiên tử vẫn ngồi làm vua

***

Rượu chè cờ bạc gái trai

Là thuốc trường thọ ông trời cho ta

Chính trị là thứ tránh xa

Bàn nhiều đoản thọ hoặc là đánh nhau

***

Gọi là trẻ hay là già

Thì ta vỗ ngực vẫn là đàn ông

Khác xa các vị công công

Gia tài chỉ có một dòng nước trong

***

Vợ là cửa cái

Bạn gái là cửa sổ

Càng nhiều cửa sổ càng sang

Cửa cái anh vẫn đàng hoàng vào ra

Vợ là cửa cái nhà ta

Lại là cửa sổ thằng cha láng giềng

***

Vợ là cơm nguội nhà ta

Lại là phở tái thằng cha láng giềng...

***

Ái tình nếu uống đủ liều

Loài người sẽ thoát được điều tà dâm

***

Phải vào mới thấy lối ra

Phải yêu mới biết đâu là không yêu

Tìm ai suốt cả bốn chiều

Rồi ra mới biết bốn chiều đều không

***

Những kẻ sĩ trường văn trận bút

Làm nô văn mong chút hư vinh

Đã vào cỗ máy công danh

Không thành ra bã cũng thành ra khuôn

***

Trốn chợ lên đỉnh núi tu

Họ bê cả núi hoang vu về phường

Tiếng chuông vào phố lạc đường

Sư già khất thực luôn mồm thanh-kiu

***

Đường vào đạo lớn vô hình

Chỉ dành cho kẻ vô tình bước qua

Cố tình trồng hoa hoa không nở

Vô tình cắm liễu liễu lên xanh

***

Tìm tiền ở chỗ người đông

Tìm người ở chỗ mênh mông đất trời

Tìm tiên ở chỗ ăn chơi

Tìm đạo ở chỗ cõi người cực đau

***

Sông Cầu nước chảy lơ thơ

Có đôi trai gái ngồi hơ quần đùi

Có chàng thi sĩ dở hơi

Sông Cầu không ngắm, ngắm đùi cô em

***

Bọ ngựa rình bắt ve sầu

Biết đâu chim sẻ đằng sau bắt mình

Mải tìm danh lợi gái xinh

Biết đâu cái họa đang rình bắt ta

***

Đừng chê canh nhạt của tôi

Vì anh ăn mặn lâu rồi thành quen

Em đen đâu bởi em đen

Em đen là bởi cái đèn bật lên

***

Đừng thấy em bé mà chòng

Lớn lên anh sẽ phải lòng em ngay

Đừng thề mãi mãi đắm say

Mai kia em sẽ thành ngay bà già

***

Về thăm chiến địa Điện Biên

Ngậm ngùi tiếc thủa tráng niên  qua rồi

Ngày xưa kéo pháo băng đồi

Nay không kéo được qua đùi chị em

***

Muốn cho trộm chẳng đến nhà

Đề vào trước cửa đây là nhà thơ

Muốn đuổi khách ra khỏi nhà

Đọc thơ được giải họ ra tức thì.

Đêm nằm nghĩ mãi không ra

Tại sao thằng ấy lại là nhà thơ.

***

Bánh mỳ phải kẹp pa tê

Đàn ông phải có máu dê trong người

***

Đi bộ gọi là chân tu

Đếm tiền lễ bái gọi là tay tu

Ngoài ra những kẻ ngồi tù

Nhốt riêng trai gái gọi là cu tu

***

Tự trói thì gọi là tu

Bị trói thì gọi là tù mọt gông

***

Đi chùa nên tránh lúc đông

Sợ nhiều người quá phật không thấy mình

Còn khi đi đến chợ tình

Người đông dễ chọn cho mình người yêu.